Vài ngày sau khi trở lại trường, cuộc sống của Lâm Vũ Tường trôi qua một cách mơ hồ hỗn độn. Trong khuôn viên trường, quả nhiên đã mấy lần nhìn thấy Susan, hai người chỉ mỉm cười với nhau. Phía sau sự thỏa mãn lớn lao ấy tất nhiên là một khoảng trống lớn lao, nỗi tương tư của cậu dành cho Susan càng lúc càng mãnh liệt, đến mức chẳng buồn đọc sách nữa, lên lớp chỉ ngồi mơ tưởng. Phát hiện thành tích tụt hẳn xuống, cậu lại vùi đầu học bù một thời gian, cuối cùng cũng theo kịp mức trung bình.
Ở phương diện này thì La Thiên Thành tiến bộ hơn hẳn Lâm Vũ Tường, cứ cách vài ngày lại tuôn trào viết một bức thư tình, dĩ nhiên là tương đối dè dặt, nhưng đã bày tỏ được tâm ý trong lòng:
Dear Susan:
Sau khi từ Chu Trang trở về, tớ phát hiện mình luôn có thiện cảm với cậu. Đời người có được một tri kỷ là đủ. Có qua lại những lời xã giao mà không trao gửi tấm lòng với nhau thì đó thực sự là một nỗi đau. Tớ cảm thấy nói chuyện với cậu rất hợp, trong những biến đổi vô thường của thế sự, có một người bạn để nương tựa luôn là điều quý giá. Có những ngọt ngào không ai chia sẻ, có những cay đắng tớ phải tự mình nếm trải. Vì thế tớ muốn có một người cùng gánh vác và sẻ chia, và cậu là lựa chọn tốt nhất. If you deny me, I have to accept the reality and relinquish the affection, because that was the impasse of the love. Nếu cậu từ chối tớ, tớ cũng chỉ đành chấp nhận hiện thực, cũng chỉ có thể buông tay, bởi đó đã là điểm cuối của tình yêu.
Yours, Thành
(ND: Yours sincerely, ở đây dùng nửa tiếng Anh nửa tiếng Trung, chữ sincerely là chân thành, cũng là tên của La Thiên Thành)
Bức thư này viết rất văn hoa, đặc biệt là đoạn tiếng Anh buồn bã sâu sắc kia lại càng xuất sắc. Cứ tưởng nắm chắc phần thắng, nào ngờ Susan trả lại thư, còn sửa lỗi ngữ pháp, rồi hỏi ngược một câu: “Cậu là hạng nhì toàn khối à?”
Nhận được thư hồi âm, La Thiên Thành tức chết, uất hận đến mức muốn giết cho ngôi trường này chỉ còn lại hai người. Susan nói với Thẩm Khê Nhi rằng La Thiên Thành là kẻ giả vờ thâm trầm, quá nông cạn, quá giả tạo. Những lời ấy truyền đến tai La Thiên Thành, cậu ta chỉ biết thở dài cảm thán tình yêu là thứ gì trên đời, rồi chửi rủa từ xưa hồng nhan hay lắm tai họa. Lâm Vũ Tường xem xong thì mừng thầm, may mà cú cắn của La Thiên Thành lần này không cắn thủng. Theo lý mà nói, La Thiên Thành đã cắn lỏng ra rồi, để đến lượt Lâm Vũ Tường cắn cú thứ hai thì tỷ lệ thành công sẽ lớn hơn. La Thiên Thành hoàn toàn không hay biết, theo đuổi một cô gái cũng giống như người bắn cung kém bắn tên, mũi tên đầu tiên nói chung đều trượt đích. Đợi trượt đích có kinh nghiệm rồi mới dần dần có cảm giác. Cậu ta bắn một mũi tên lệch liền bỏ cuộc, chỉ trách bia đặt không ngay. Thế nhưng mũi tên này lại lệch đến mức quá đáng, lại trúng một cái bia khác. Một nữ sinh nhỏ hơn một lớp, ngưỡng mộ tư tưởng triết học của La Thiên Thành, đã viết cho cậu ta một bức thư. Bức thư ấy giống như lỡ chân rơi vào hũ mật, ngọt đến phát ngấy, bên trái một tiếng “anh ơi”, bên phải một tiếng “anh ơi”. Con gái bây giờ thông minh, khi theo đuổi ai đó đều dùng tình thân làm vỏ bọc, như vậy kẹt giữa tình bạn và tình yêu, tiến lui đều tự do. La Thiên Thành chưa bao giờ có em gái, bị mấy tiếng “anh ơi” gọi cho tai dựng đứng, giống như mèo nghe thấy tiếng gõ bát, lảo đảo mà bị hút tới. Cô bé ấy cũng coi như mù mắt, vì triết học mà hiến thân, thân thiết với La Thiên Thành đến mức cho nổ bom cũng không nổ tách ra được.
Cô gái ấy có bóng dáng của Susan, mái tóc dài bồng bềnh, nụ cười duyên dáng, gương mặt thanh tú xinh đẹp. Một người đàn ông sau khi thất tình, hoặc là tự tử, hoặc là lại yêu thêm lần nữa. Mà đối tượng lần thứ hai thường có yêu cầu gần giống với người đầu tiên. Tâm lý này rất tinh vi, giống như đang ăn một món thấy rất ngon, đột nhiên bị người khác giật mất, dĩ nhiên sẽ tìm mọi cách để kiếm lại một món có hương vị tương tự. Logic này chỉ áp dụng khi phía nữ phản bội hoặc việc theo đuổi không thành. Còn nếu hai người đã hoàn toàn không còn tình cảm với nhau, thì không tồn tại cái gọi là “tình yêu cái bóng” này, thứ đồ ăn càng ăn càng thối thì không cần ăn lại lần nữa.
Những suy nghĩ của La Thiên Thành thì Lâm Vũ Tường không sao biết được. Cậu chỉ biết rằng La Thiên Thành đã rút lui, và Lâm Vũ Tường cũng lập tức thả lỏng theo. Cuộc chạy đua giờ chỉ còn một mình cậu, mọi chuyện chẳng qua chỉ là vấn đề thời gian, không cần lo không giành được quán quân. Cậu vẫn chỉ mỉm cười với Susan mỗi khi tình cờ gặp trên đường. Mọi thứ cứ từ từ.
Bên phía câu lạc bộ văn học, Mã Đức Bảo đang giục bài. Vài ngày trước khi đi Chu Trang, Mã Đức Bảo nhận được một bức thư, trên phong bì ký tên rất kêu, là Nhóm nghiên cứu văn học đương đại thuộc Trung tâm nghiên cứu văn hóa Trung Quốc. Con dấu đỏ rõ ràng, Mã Đức Bảo tin chắc không thể là giả. Nội dung thư đại khái nói rằng: “Thành tích văn học của quý trường rất nổi bật, danh tiếng vang xa. Gần đây trung tâm chúng tôi đang tổ chức Cuộc thi sáng tác văn dành cho học sinh trung học trên toàn quốc, quy mô to lớn, chưa từng có tiền lệ, các báo chí lớn đều có đưa tin. Quý trường đào tạo nhân tài có phương pháp, kính mong không tiếc bài dự thi, chúng tôi vô cùng cảm kích. Ban tổ chức cuộc thi lần này mời các nhà văn nổi tiếng toàn quốc ×××, ×××, ×××, các học giả nổi tiếng ×××, ×××, ××× tham gia hội đồng giám khảo để thể hiện trình độ. Bài dự thi cần kèm theo phí sơ tuyển là hai tệ, sau khi sơ tuyển đạt yêu cầu sẽ lập tức thông báo cho nhà trường. Cuộc thi này không mang tính thương mại.”
Cuối thư ký tên là Mã Cự Hùng. Mã Đức Bảo đọc đi đọc lại bức thư này mấy lần, điều khiến ông cảm động nhất là toàn bộ chữ viết đều là chữ viết tay, đủ thấy trung tâm nghiên cứu ấy coi trọng nhà trường đến mức nào. Ngay cả bản thân Mã Đức Bảo cũng không ngờ ngôi trường này lại có danh tiếng lớn đến vậy, quả nhiên là “tiếng tăm vang xa”. Xem ra danh tiếng giống như mái tóc sau gáy, người trong cuộc thì không nhìn thấy, còn người ngoài thì nhìn là rõ ngay.
Trung tâm nghiên cứu ấy ở tận Bắc Kinh, cơ quan tại thủ đô thì chắc chắn không thể là giả. Còn khoản phí sơ tuyển hai tệ thì cũng là điều đương nhiên. Bao nhiêu chuyên gia nổi tiếng toàn quốc mà Mã Đức Bảo chưa từng nghe tên, chi phí ăn uống, đi lại, và vệ sinh đều do trung tâm nghiên cứu chi trả thì cũng quá là làm khó họ. Thời buổi kinh tế thị trường, hai tệ chỉ là tiền lẻ, cùng lắm là một gói mì ăn liền. Huống chi người phụ trách lại là người cùng họ Mã với Mã Đức Bảo, cái tên ấy cũng mang khí phách phi thường, là niềm tự hào lớn của họ Mã.
Mã Đức Bảo đã quyết tâm dẫn dắt câu lạc bộ văn học tham gia, chuyến đi Chu Trang cũng là để chuẩn bị cho việc này. Trong số đông đảo hội viên, người được Mã Đức Bảo đánh giá cao nhất là Lâm Vũ Tường, La Thiên Thành và Thẩm Khê Nhi. Ba người này đều có bút lực bất phàm. Lâm Vũ Tường giỏi trích dẫn cổ văn, đó là do bị ép buộc. Lâm Vũ Tường buộc phải ôm theo một cuốn “Từ điển Hán cổ” để miễn cưỡng dẫn chứng. Chẳng hạn trong bài văn viết “tôi dùng cái lưỡi ba tấc bất hoại nói đến mức khiến hắn đau thấu xương tủy”, người khác có thể viết như vậy, còn Lâm Vũ Tường vì sĩ diện phải đành tra từ điển rồi viết thành: “tôi dùng cái lưỡi ba tấc bất hoại của tiên sinh Mao trong Sử ký – Bình Nguyên Quân liệt truyện nói đến mức khiến hắn giống như trong Chiến Quốc sách – Yên sách tam đau thấu xương tủy.” Mã Đức Bảo khen văn chương của cậu là vô địch, cậu cũng đắc ý mang về nhà cho bố Lâm xem, rồi bị bố mắng cho một trận. La Thiên Thành thì càng không cần nói, sâu sắc bậc nhất thiên hạ, dùng thành ngữ thì chim thú bay loạn, rất hợp ý Mã Đức Bảo. Văn biền ngẫu của Thẩm Khê Nhi làm rất có phong cách của Mã Đức Bảo, bản thân ông dĩ nhiên không có lý do gì lại không thích chính mình.
Thẩm Khê Nhi làm việc nghiêm túc, lại thêm văn biền ngẫu đã viết đến mức tinh xảo khéo léo, bút tới thì chữ ra, rất nhanh đã nộp bài dự thi cùng hai tệ phí sơ tuyển. La Thiên Thành tiếc rằng trong văn tự sự không dùng được triết học của mình, nên cứ chần chừ chưa nộp. Lâm Vũ Tường còn chậm hơn, phải vừa lật từ điển vừa viết, khổ không kể xiết, trong bài văn toát ra một mùi chua chát.
Mã Đức Bảo như đòi mạng, bám theo sau mông Lâm và La để thúc giục. Cô em gái nhỏ của La Thiên Thành lo cho anh trai, nói bảo anh tạm thời đừng dùng triết lý của chính mình, vì người Trung Quốc xưa nay coi thường lời nói của kẻ không có danh tiếng. Lại đùa rằng ở Trung Quốc, người không có danh nói ra là đánh rắm thối, còn người có danh đánh rắm cũng thành danh ngôn. La Thiên Thành sùng bái vô cùng, lập tức gắn trước lời mình nào là “Heidegger nói”, “Schopenhauer viết”, “Comte nói với chúng ta”, chẳng bao lâu thì hoàn thành, nộp cho Mã Đức Bảo. (ND: Martin Heidegger là nhà triết học người Đức, Arthur Schopenhauer là nhà triết học duy tâm người Đức, Auguste Comte là nhà tư tưởng người Pháp). Mã Đức Bảo tự tiện đổi quốc tịch cho Comte, nói ông là con của Khổng Tử, làm hại Comte mất cha. (ND: Auguste Comte có tên tiếng Trung là Khổng Đức). La Thiên Thành cười thầm không nói, về sau liền rêu rao rằng Mã Đức Bảo cũng vô tri như Lâm Vũ Tường. Mã Đức Bảo tự nghĩ thấy không ổn, tra tư liệu, đỏ mặt khó chịu, lên lớp thì sửa lại sai lầm của mình, thao thao bất tuyệt nói Comte là người Pháp. Sau khi Comte bị “trục xuất về nước”, Mã Đức Bảo để che giấu sự vô tri lại nói rằng Khổng Tử trong tiếng Anh là một từ riêng biệt, gọi là “Confucius”.
Sau đó có kẻ lắm chuyện hỏi vậy còn Lão Tử thì sao?
Mã Đức Bảo đành cứng đầu ghép vần “Lão Tử”, trước tiên ghép ra một chữ Laos (Lào), không may đã bị một quốc gia dùng trước. Lại nghĩ đến Loach (cá chạch) và Louse (con rận), tiếc rằng đều không thành, chỉ biết than thở âm đọc sao mà kỳ quặc thế. Về sau học sinh tự đùa với nhau, nói rằng Mặc Tử từ bỏ tấm lòng kiêm ái, đổi sang tin theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông (Maoist).
Mã Đức Bảo từ kẻ vô tri trở thành hữu tri, vì thế kẻ vô tri chỉ còn lại một mình Lâm Vũ Tường. Lâm Vũ Tường thật sự không viết nổi, định bỏ cuộc, nhưng Mã Đức Bảo không cho phép. Lâm Vũ Tường đành phải sao chép, đem nội dung trong một cuốn sách giới thiệu vẻ đẹp của Chu Trang xáo trộn lên rồi lắp ghép lại vào với nhau, kèm hai tệ đưa cho Mã Đức Bảo.
Công việc tuyển chọn bản thảo của câu lạc bộ văn học sắp đến hồi kết, Mã Đức Bảo tổng cộng đã “đỡ đẻ” ra hơn hai mươi bài viết chất lượng cao thấp lẫn lộn, gửi cho Mã Cự Hùng. Một tuần sau, Mã Đức Bảo nhận được thư báo rằng ông đã vinh dự đoạt giải “tổ chức đề cử”, được một tấm giấy khen, còn bài văn của học sinh thì đang trong quá trình sơ tuyển.
Lâm Vũ Tường ngày càng mất hứng thú với câu lạc bộ văn học, phần hứng thú đã mất ấy toàn bộ đều chuyển sang “tài khoản” của Susan. Cậu nhìn La Thiên Thành và cô em gái nhỏ của cậu ta mà thấy đỏ mắt ghen tị. Cô em gái nhỏ ấy có được La Thiên Thành thì như vớ được bảo bối, ngày nào cũng đến tìm La Thiên Thành để tâm sự. Hai người ấy lòng dạ mênh mông, nói nửa ngày vẫn chưa hết chuyện, đủ thấy sản phẩm phụ của tình yêu chính là lời nói nhảm.
Bạn bè trong lớp đều tra hỏi La Thiên Thành đã lừa được cô bé thuần khiết ấy từ đâu về, La Thiên Thành nói: “Tôi lừa hồi nào, là cô ấy tự dâng đến cửa.”
“Không thể nào, với cái dạng như cậu…”
“Còn nữa, cậu có nói với cô ấy là cậu từng bị viêm gan, có thể lây cho người khác không?”
“Cô ấy sẽ không để ý đâu!” La Thiên Thành nói chắc nịch.
“Cậu hỏi thử rồi hãy nói, con gái người ta sợ nhất là việc cậu có bệnh đấy, cậu vừa nói ra là cô ấy chạy mất dép ngay!” người khác nói.
La Thiên Thành lúc này mới nghĩ tới việc sửa lại nhận thức sai lầm của mọi người trong lớp, nói: “Anh trai và em gái thì có liên quan gì đâu, chỉ là quan hệ anh em thôi, các cậu nghĩ phức tạp quá rồi, không có chuyện đó.”
Lời vừa nói ra liền bị truy kích tứ phía, bằng chứng từ bốn phương tám hướng ào tới: “Ối giời, đừng có chém nữa, bọn này đều nhìn thấy cả rồi, hai người thân mật thế kia!”
“Quấn quýt như keo với sơn!”
“Tớ còn thấy cậu đi dạo cùng cô ấy, đứng sát đến mức… này, Đông Bắc, cậu nói xem…”
“Tớ nói là sát rạt luôn!”
“Sát kinh!”
“Sát ghê!”
“Sát khủng khiếp!”
La Thiên Thành không ngờ đám bạn cùng lớp đều là chuyên gia ngôn ngữ, cả một đống câu châm biếm đã sẵn sàng tung ra để phản bác.
Đám người trong lớp tiếp tục đâm chọc La Thiên Thành. Họ dường như đều xuất thân từ tay chân đánh thuê, biết rằng khi một người bị đánh đến nửa sống nửa chết thì người đó càng phản kháng dữ dội, cách giải quyết tốt nhất là đánh chết hẳn rồi tính…
“Tớ còn thấy cậu với cô ấy cùng nhau đi ăn ở ngoài nữa!”
“Tớ cũng thấy.”
“Thứ Bảy ở trên cầu lớn!”
“Chủ nhật thì đi dã ngoại rồi!”
La Thiên Thành không ngờ rằng hành tung của mình tuy tự cho là bí mật, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát khỏi sự do thám. Trong cốt cách người Trung Quốc vốn có sẵn thành phần thích dòm ngó. Ở trong nước vì nhân tài ở mặt này quá nhiều nên không lộ ra được tài năng, nhưng hễ ra nước ngoài thì liền độc tôn thiên hạ. Đó cũng là lý do vì sao có người Trung Quốc chỉ cần chạy ra nước ngoài một chuyến, lúc quay về đã thành gián điệp. Cũng chẳng trách Trung Quốc có câu danh ngôn: “Con mắt của quần chúng là sáng như tuyết.” Thời chiến, con mắt sáng như tuyết ấy dùng để phát hiện kẻ địch. Đến thời bình, con mắt ấy liền chuyển sang soi mói đời tư người khác. Bí mật của La Thiên Thành bị đào bới sạch sẽ, cậu ta kêu lên: “Các cậu không được theo dõi tôi!”
“Ôi chao, triết gia lớn ơi, ai mà theo dõi cậu chứ, no rửng mỡ hay sao mà rảnh thế. Là vô tình đụng phải thôi, xui xẻo thật! Muốn tránh cũng tránh không nổi!”
Tan học, La Thiên Thành lại đi cùng cô em gái. Vì buổi sáng đã bị dọa cho một phen kinh hồn, lúc này cảm thấy xung quanh toàn là ánh mắt, đành phải vòng vo mà tiến. Trên đường nói: “Em gái à, em biết không, bạn học của anh đều đã biết cả rồi.”
Cô hỏi là biết chuyện gì.
La Thiên Thành ấp úng nói chuyện đó.
Cô thản nhiên đáp: “Anh để tâm đến những lời ấy lắm sao?”
La Thiên Thành vội nói: “Quan tâm mấy thứ đó làm gì!”
Cô em gái vui vẻ mỉm cười. Thỉnh thoảng nói dối một chút là vô cùng cần thiết, La Thiên Thành hiểu rất rõ chân lý này. Sự qua lại giữa cậu ta và cô em gái đều được dệt nên bằng những lời dối trá. Nào là “tuổi nhỏ mà sớm khai trí, đọc rộng biết nhiều”, nào là “văn võ song toàn, cầm kỳ thi họa đều tinh thông”, nói dối đến mức chính cậu ta cũng chẳng còn cảm giác. Thậm chí, lỡ đâu thốt ra một câu thật, ngược lại còn sinh ra cảm giác hoảng hốt như phạm giới.
Cô gái tin lời ấy, hỏi: “Đúng vậy, anh là anh trai của em mà.” Con gái càng ngốc thì càng khiến người ta yêu mến, La Thiên Thành chính vì sự thuận theo của cô mà càng thích cô đến mức khó dứt bỏ. Cậu ta nói: “Đừng để ý người khác nói gì.”
Cô em gái cười một cách tinh quái, hai tay vung ra sau lưng, làm nũng nói: “Em nghe nói anh từng thích một cô gái rất rất rất rất xinh đẹp, có đúng không? Không được lừa em đâu nhé!”
Sự kinh ngạc của La Thiên Thành cuộn lên trong bụng, nhưng sắc mặt vẫn không đổi, định nói thật. Nhưng chợt nhớ ra con gái rất hay ghen, mà ghen thì dai như giấm để lâu, nên sợ rước họa vào thân, đành nói lấp liếm: “Đừng nghe người ta nói nhảm đấy!”
“Đúng rồi, cô ấy tên là Susan… chắc chắn là thật, anh lừa em!” cô gái hơi tức giận nói.
La Thiên Thành hành nghề lừa gạt đã nhiều năm, lần này lại thất bại, liền lập tức biên soạn câu chuyện mới, nói: “Chuyện em nói thì có… nhưng không phải là anh thích cô ta, mà là cô ta thích anh, cô ta rất ngưỡng mộ anh… em hiểu ý đó chứ. Rồi thì anh, không, là cô ta viết cho anh một bức thư, anh đương nhiên đã từ chối trong lý trí, nhưng anh sợ làm cô ta tổn thương quá sâu, lại viết một bức thư xin lỗi. Cô ta gặp ai cũng nói là cô ta đá anh. Haiz, con gái mà, hư vinh một chút cũng là điều có thể thông cảm. Anh cũng không định giải thích, nhẫn nhịn cho xong.” Nói xong thì bội phần ngưỡng mộ đối với tài năng hư cấu và phóng đại của chính mình. Một ngôi sao mới của giới báo chí đang từ từ mọc lên.
La Thiên Thành có phong thái của một kẻ biết nhẫn nhịn, nhưng cô em gái thì không, phẫn nộ nói muốn trả thù. La Thiên Thành sợ chuyện bị phanh phui sẽ khó thu dọn, liền cảm hóa cô em gái, nói rằng nhẫn nhịn là một đức tính tốt đẹp. Cô em gái được thuyết phục, bèn có được đức tính ấy.
Hai người đi lên cầu. Cây cầu ấy được xây sau ngày lập quốc, bắc qua một con sông lớn của thị trấn, miễn cưỡng cũng có thể gọi là một câu cầu lớn. Cây cầu lớn đã đến cái tuổi bốn mươi, lẽ ra là độ tuổi chín chắn, nhưng thực chất lại là độ tuổi chẳng được cái gì cả. May mắn lắm mới không bị phá bỏ, chỉ được giữ lại cho có để bảo dưỡng. Nó xuống cấp đến mức người ta bước lên còn không dám hắt hơi, sợ làm nó sụp mất. Trên cầu xe ít mà người nhiều, toàn là các cặp tình nhân, ai nấy đều thản nhiên đối diện với cái chết. Ngày hôm đó ánh hoàng hôn đặc quánh, hắt lên khuôn mặt người ta một màu đỏ hồng hồng. La Thiên Thành và cô em gái đứng trên cầu bàn luận sôi nổi về sinh, lão, bệnh, tử. La Thiên Thành vốn là kẻ trốn ra từ cửa Phật, biết đó là cái gọi là “tứ khổ”, bèn nói: “Những thứ ấy thật ra đều chẳng có gì ghê gớm, anh dự định sau bốn mươi tuổi sẽ ẩn cư, bình thản mới là chân thật.”
Cô gái nói: “Em sợ nhất là bị bệnh, phải tiêm đó!”
La Thiên Thành tiếp tục trình bày quan điểm: “Một con người sống trên đời, ra vào chốn hồng trần rốt cuộc cũng là một khoảng trống không, đến khi chết rồi thì chẳng còn gì…” bỗng khựng lại, nhớ xem câu này mình đã từng nói với cô em gái chưa, nhưng nghĩ không ra, đành dừng lại.
Cô gái không giục cậu ta nói tiếp, làm nũng nói: “Ôi, em sợ chết nhất đó! Sẽ đau lắm, đau lắm!”
La Thiên Thành quay sang nhìn khuôn mặt rạng rỡ của cô em gái, thấy cô càng xinh đẹp hơn, ánh mắt cậu ta tràn đầy mong chờ. Ánh hoàng hôn hồng càng làm tăng thêm bầu không khí lãng mạn giữa hai người. La Thiên Thành im lặng, một khao khát mãnh liệt muốn hôn cô dâng trào trong lòng. Thượng đế ban cho chúng ta miệng để ăn, nhưng môi chắc chắn là để hôn. Đôi môi của cô gái khẽ mím lại, hồng hào và bóng bẩy, như thể đang quyến rũ đôi môi của La Thiên Thành. Dù còn do dự, La Thiên Thành quyết định không làm trái ý Thượng đế và lén lút liếm môi mình. Cậu ta nhìn em gái, cảm nhận được trạng thái gần như say đắm của cô, và càng trở nên táo bạo hơn, nghiêng người lại gần hơn.
Bản chất chỉ là bốn bờ môi chạm nhẹ vào nhau, vốn không đủ để nói lên điều gì, nhưng con người cứ khăng khăng coi đó là biểu tượng của tình yêu. Bất kể trước đó là quan hệ gì, chỉ cần bốn môi chạm nhau thì liền trở thành một đôi tình nhân. Cả La Thiên Thành và em gái đều không thể phủ nhận mối quan hệ này. La Thiên Thành trở nên nghiện hôn, khoe khoang về những trải nghiệm của mình với mọi người cậu ta gặp. Trên thực tế cũng chẳng có gì đặc biệt, ai cũng dành phần lớn thời gian trong ngày để hôn… tự hôn mình.
Ở trong trường, một nam sinh từng hôn ai đó thì “giá trị” lập tức tăng vọt, còn nữ sinh bị hôn thì “giá trị” lại tụt dốc thảm hại. Cô gái tức tối chất vấn La Thiên Thành tại sao lại đem chuyện đó nói ra ngoài, còn vẻ mặt kinh ngạc giả vờ rất đạt của La Thiên Thành khiến ngay cả người nghe cậu ta nói cũng phải giật mình. Có người lén mách lại cho cô gái, cô tức đến không chịu nổi, tìm La Thiên Thành cãi nhau một trận lớn, lúc này La Thiên Thành mới biết “tiểu muội” của mình có cái tài ấy.
La Thiên Thành càng lúc càng thấy cô gái đó chẳng có gì thú vị. Cô chỉ thích triết học chứ không thích loại triết gia như La Thiên Thành… Điều này chẳng có gì lạ, một người thích ăn táo đâu có nghĩa là nhất định cũng phải thích ăn cây táo. Hơn nữa, cô thích triết học nhưng lại không thích bàn luận về triết học. La Thiên Thành cho rằng cô quá nông cạn, chỉ có mỗi gương mặt xinh đẹp, không có chiều sâu như Susan. Đàn ông chọn bạn gái tuyệt đối không tùy tiện như mua rau ngoài chợ, chỉ hận trên đời không có ai hội đủ dung mạo Tây Thi, thân hình Marilyn Monroe, khí chất Lâm Huy Nhân và trí tuệ Athena… à không, trí tuệ của Athena thì không được, con gái mà có thứ trí tuệ ấy rồi thì mọi mánh khóe của đàn ông đều trở nên vô dụng.
Cô em gái cuối cùng vẫn có được nửa phần trí tuệ của Athena, quyết định chia tay La Thiên Thành. La Thiên Thành cũng khá sòng phẳng, an ủi xin lỗi vài câu rồi buông tay nhanh hơn cả xì hơi.
Mấy ngày đầu, La Thiên Thành cảm thấy chưa quen. Nhưng La Thiên Thành bỗng lại có ham muốn học tập hơn Lâm Vũ Tường, ôm sách đọc mấy ngày, qua thời kỳ thích nghi rồi lại thấy một mình vẫn đơn giản hơn.
Cô em gái ấy thì đúng là như đã ẩn cư, thỉnh thoảng mới tái xuất giang hồ, khi đó cô trầm lặng lạnh lùng đến mức khiến người khác sợ. Có vô tình chạm mặt La Thiên Thành cũng như người xa lạ, mắt nhìn thẳng, coi như không quen biết.