Quê của Lâm Vũ Tường ở một vùng nông thôn và ngôi làng phụ thuộc vào đường sắt. Cách đây vài năm tàu đã tăng tốc nhưng bọn trẻ ở đó không thể tăng tốc. Một lần khi đang chơi trên đường sắt, có hai đứa trẻ đã bị tông chết. May mắn cho Lâm Vũ Tường lúc đó mới 5 tuổi đã phải ở nhà đọc “Kinh Thư” và sống sót, đây đúng là chuyện tốt duy nhất mà chủ nghĩa giáo điều đã đạt được trong sự phát triển của nó cho đến ngày nay. Cha của Lâm Vũ Tường ban đầu lo sợ bất an nên bắt Lâm Vũ Tường phải suốt ngày học thuộc lòng “Luận ngữ ” và “Tả truyện”. Nhưng hình ảnh hai đứa trẻ đã cống hiến cả thân mình cho chủ nghĩa tự do vẫn còn đọng lại trong lòng mọi người. Cha của Lâm Vũ Tường thường mơ thấy xương trong bụng mình vương vãi khắp đường ray và quyết định rằng ông không thể ở lại đây lâu. Đúng lúc đó, một ấn phẩm nội bộ của ủy ban huyện đang cần người, và cha của Lâm Vũ Tường được thăng chức làm biên tập viên, nên cả gia đình chuyển đi. Thật không may, do nguồn tài chính có hạn nên họ không thể di chuyển xa. Ông chỉ chuyển nhà một hai ki-lô-mét đến thị trấn. Ở xa đường ray khiến ông cảm thấy thoải mái hơn, ngày nào ông cũng thoải mái đi làm từ sớm và về muộn.
Cha của Lâm Vũ Tường yêu sách như tính mạng, nhưng đáng tiếc là ông chỉ yêu sách chứ không đọc. Ông cất hàng nghìn cuốn sách trong nhà, chỉ để khoe, ngày thường hiếm khi đọc. Người đứng cạnh hố xí lâu ngày sẽ bị nhiễm mùi phân. Theo nguyên tắc này thì người đứng trong đống sách lâu chắc chắn sẽ bị nhiễm mùi sách. Cha của Lâm Vũ Tường không đọc nhưng có tài. Nhờ vào tài thơ ca mà trở thành nhà văn nổi tiếng trong huyện. Việc sưu tầm sách ở nhà chỉ có thể dùng để khoe khoang với bên ngoài chứ bên trong nó không có sức mạnh như vậy. Lâm Vũ Tường khi còn nhỏ thường lắc và nói: “Sách nhảm nhí, sách bỏ đi, sách vô dụng.” Lời nói đó được truyền từ miệng mẹ Lâm Vũ Tường đến tai cha cậu ta, giống như việc dịch thơ cổ Trung Quốc ra tiếng nước ngoài, sức hấp dẫn của nó thay đổi mạnh mẽ. Cha Lâm Vũ Tường đánh cậu ta vì xúc phạm văn hóa. Lâm Vũ Tường lúc đó đáng thương đến mức không hiểu “xúc phạm” là gì chứ đừng nói đến “văn hóa”. Chỉ nghĩ rằng mình đang nói những lời không hay, để đến sau này vẫn sợ hãi không dám nói gì liên quan đến thân thể người và cả súc vật. Nhưng sau lời mắng của Vũ Tường, cha Lâm đã có một bước nhảy vọt trong suy nghĩ và quyết định biến rác thành kho báu. Lâm Vũ Tường mỗi ngày đều bị bắt học chữ đọc sách. Cha của Lâm Vũ Tường mười phần đắc ý, sách cũng giống như tiền giấy, ông không phải tiết kiệm để lưu lại cho con dùng, đây chính là thể hiện tình cha con.
Không ngờ Lâm Vũ Tường bẩm sinh đã chán ghét sách, đúng hơn chủ yếu là do các nguyên nhân sau khi sinh, cậu cũng muốn để lại sách cho con cháu. Sách cũng giống như phụ nữ vậy, một người cầm trong tay một cuốn sách mới, khi lật giở tự nhiên sẽ nảy sinh một cảm giác thương hoa tiếc ngọc như khi gặp một trinh nữ, bởi chí ít nội dung trong cuốn sách ấy là do mình đọc đầu tiên. Trái lại, cầm sách cũ trong tay thì giống như cưới một người đàn bà đã tái giá, xuân sắc đã qua nửa, dung nhan đã hao mòn phần nào, lật lên cũng chẳng còn hứng thú. Vì những gì mình đọc, người khác đã đọc qua từ lâu, lặp đi lặp lại không còn chút mới mẻ nào. Lâm Vũ Tường ra sức giữ gìn sự tươi mới của sách, lỡ đâu khi con cháu gặp khó khăn, những cuốn sách ấy còn có thể bán như sách mới được. Ánh mắt của cha Lâm chỉ dừng lại ở đứa con trai, không đủ sâu xa để nghĩ tới đời cháu, ngày nào cũng ra lệnh bắt Lâm Vũ Tường phải đọc sách, mà còn là đọc sách hay. Trong “Hồng Lâu Mộng” nữ nhân quá nhiều, sợ con trai nảy sinh hứng thú nghiên cứu phụ nữ quá sớm nên bị liệt vào danh sách cấm. May mắn thay, trong “Thủy Hử” có 105 nam nhân, chiếm ưu thế tuyệt đối, dù có phụ nữ xuất hiện cũng không thành vấn đề nên không bị cấm. Tuy nhiên, có một số nội dung cần phải xóa khỏi đoạn hội thoại, chẳng hạn như chữ “chim” không thể xuất hiện và tất cả những nơi có “chim” đều bị bôi đen. Thật không may, có quá nhiều “chim” trong truyện Thủy Hử, và khối lượng công việc của cha Lâm Vũ Trường là quá nặng nề. Hơn nữa, sinh học cho chúng ta biết rằng sự tuyệt chủng của một loài động vật cần có thời gian. Vì vậy cha Lâm dù trăm điều kín kẽ vẫn sơ hở một chỗ, vô tình để lọt vài “con chim” chưa bị diệt sạch, đến khi phát hiện thì da đầu cũng tê dại, may mà kịp thời dập tắt tai họa, không gây ra ảnh hưởng gì.
Cha của Lâm Vũ Tường cũng không phải là tài giỏi lắm, chỉ biết một mà không biết hai, nên đã bỏ sót cho qua chữ “…” trong “Tứ thế đồng đường” của Lão Xá. Một hôm tình cờ tra từ điển, tìm được chữ “…” ấy, ông giật mình kinh hãi, nghĩ rằng văn của Lão Xá dùng từ quá sâu xa, không thích hợp cho Vũ Tường xem. Nghĩ đi nghĩ lại, vẫn thấy cổ văn là tốt nhất. Thế nhưng cổ văn cũng khó tránh khỏi loại chữ nghĩa như vậy. Đường đường là “Sử ký”, hẳn phải đủ nghiêm chỉnh rồi, nhưng Tư Mã Thiên khi viết nó từng chịu cung hình, đối với những gì bản thân thiếu hụt lại đầy khát khao, công khai ghi trong “Sử ký” chuyện “đại âm nhân”, tức là người có cơ quan sinh dục rất lớn.
Tuy nhiên, cổ văn cũng không tránh khỏi chứa đựng những từ như vậy. “Sử ký” trang nghiêm đáng ra cũng đủ nghiêm túc, nhưng Tư Mã Thiên khi viết nó đã bị thiến, trong lòng tràn đầy khao khát những gì mình còn thiếu, đã công nhiên ghi vào “Sử ký” từ “đại âm nhân” là người với bộ phận sinh dục lớn. Cuốn sách này cũng phải cấm. “Chiến Quốc Sách” cũng không thoát khỏi số phận xui xẻo, có đoạn miêu tả “lấy bắp đùi đặt lên thân thể nàng thiếp”, cũng bị cấm luôn. Cha Lâm chọn sách như nhặt rau, lịch sử tư liệu văn hiến phong phú rực rỡ của Trung Quốc, qua tay ông thì chết và bị thương hàng loạt. Cuối cùng chọn ra được mấy cuốn không tì vết, bắt Lâm Vũ Tường phải học thuộc. Lâm Vũ Tường vô cùng căm ghét văn học cổ Trung Quốc, nhưng vì sự uy nghiêm của cha mình, cậu ta buộc phải học thuộc lòng những câu như: “Nhân giai hữu sở bất nhẫn, đạt chi ư kỳ sở nhẫn, nhân giã; nhân giai hữu sở bất vi, đạt chi ư kỳ sở vi, nghĩa giã.” (Nếu khiến mọi người có thể nhẫn những điều họ không thể nhẫn, đó là nhân. Nếu khiến mọi người có thể làm những điều họ không thể làm, đó là nghĩa.) Hay một câu khác đơn giản hơn là “Vô cổ vô kim, vô thuỷ vô chung” (Không quá khứ, không hiện tại, không bắt đầu và không kết thúc). Học thuộc lòng hơn một năm, Lâm Vũ Tường đã nhớ kỹ được mấy trăm điều triết lý, đã có đủ lý luận của một nhà tư tưởng, chỉ thiếu mỗi tuổi tác. Khi Lâm Vũ Tường bảy tuổi, một người bạn của cha cậu là biên tập viên một tờ báo trong thành phố đã đến thăm gia đình cậu. Ông ấy than thở về những vấn đề gặp phải khi cải tổ tờ báo lúc bấy giờ, lo lắng đủ điều. Lâm Vũ Tường chỉ biết bừa bãi đọc thuộc lòng: “Uý thủ uý vĩ, thân kỳ dư kỷ” (Sợ đầu sợ đuôi, không còn khả năng làm việc). Khi vị biên tập nghe thấy rằng ngay cả trẻ con cũng dùng những lời trong “Tả Truyện” để truyền cảm hứng cho mình, ông ta trở nên mạnh mẽ và quyết định không sợ hãi. Sau đó, ông khen ngợi Lâm Vũ Tường và hẹn cậu viết một bài đồng dao. Tuổi của Lâm Vũ Tường lúc ấy còn ít hơn một nửa so với khi Vương Bột trở thành thần đồng, đương nhiên không viết nổi đồng dao. Năm Lâm Vũ Tường tám tuổi đi học, chữ đã nhận biết đến trình độ lớp sáu, được thầy giáo khen là thần đồng. Cha của thần đồng nghe vậy cũng lâng lâng tự đắc, không còn ép Lâm Vũ Tường học thuộc cổ văn nữa. Tư tưởng của Vũ Tường được giải thoát, làm một bài thơ:
Chú vịt con kêu quạc quạc
Không ăn cơm, không ngủ nghỉ
Rốt cuộc là vì sao vậy
Thì ra bài tập chưa nộp.
Cha Lâm đọc xong mừng rỡ khôn xiết, nói đó là chủ nghĩa tượng trưng, liền gửi bài thơ này cho vị biên tập viên kia, chẳng bao lâu sau được đăng báo. Cha Lâm trong lúc nhặt “rau” trong cổ văn vẫn còn dư thời gian để giảng văn học phương Tây, thực ra là học cùng con trai. Vì tác phẩm đầu tay của Lâm Vũ Tường đi theo con đường tượng trưng, cha Lâm dựa theo sách mà giảng giải dài dòng về chủ nghĩa tượng trưng, nhưng không có người thật việc thật để làm ví dụ, đành mượn tạm Blake, từ chủ nghĩa duy mỹ lắc mình một cái biến thành chủ nghĩa tượng trưng. Lúc đang giảng thì bị mẹ Lâm nghe thấy, liền giúp ông sửa lại. Mẹ Lâm từng học ngành nghệ thuật tự do ở trường đại học, lẽ ra tiền đồ xán lạn, nhưng sơ suất phạm phải sai lầm mà các cô gái tài năng rất dễ mắc phải. Đó là lấy một người đàn ông còn có tài hơn mình. Gia đình giống như một ngọn núi, cả hai bên đều phải nỗ lực leo lên nhưng chỉ có một người có thể đứng vững trên đỉnh núi. Người ta nói gia đình như một ngọn núi, nhưng quan trọng hơn là một ngọn núi không thể chứa được hai con hổ. Thông thường đàn ông sử dụng những biện pháp phi học thuật như nắm đấm hay cái đá để giải quyết tranh chấp. Vì thế mới nói “phía sau một người phụ nữ thất bại, phần lớn sẽ có một người đàn ông thành công.” Cha mẹ của Lâm Vũ Tường từng có mâu thuẫn và suýt muốn ly hôn. May mắn thay, Vũ Tường đã ra đời. Lâm Vũ Tường tư chất đáng yêu, thông minh lanh lợi, hai người đem nỗi hận dành cho đối phương chuyển hóa thành tình yêu dành cho con. Ngoài ra, sở thích của mẹ Lâm đã thay đổi sau khi hoàn thành sứ mệnh cao cả nhất của một người phụ nữ, ông trời đã ban thưởng cho bà tài năng chơi mạt chược, mỗi ngày bà đều đi sớm về khuya để chơi mạt chược. Điều này thật tốt, những cuộc cãi vã của vợ chồng đã bớt thường xuyên hơn nhiều. Nguyên nhân rất đơn giản, đó là bà ấy thường xuyên không có mặt khi cha Lâm muốn mắng mỏ nên đành phải nhịn. Theo thời gian, bản năng mắng mỏ của cha Lâm đã bị thoái hóa. Câu này có vẻ chưa đúng, vì đối với đàn ông mà nói, mắng người không phải là bản năng, mắng phụ nữ mới là bản năng.
Vì Lâm Vũ Tường suốt ngày đứng trước cửa nhà học thuộc cổ văn, người trong thị trấn đều gọi cậu là “tài tử”. Sau khi được phép đọc những sách khác, “tài tử” chuyển sang đọc tiểu thuyết hiện đại. Vì đã quen đọc cổ văn, Vũ Tường khi đọc tiểu thuyết hiện đại thì trôi chảy thông suốt như lái xe giữa đêm khuya. Tâm trí phân tán đến cực độ, cổ văn hoàn toàn bị bỏ hoang, ngay cả Hàn Phi Tử là người thế nào cũng không còn nhớ nổi. Chín trong số mười tiểu thuyết dài của Trung Quốc là dở. Những năm gần đây, tình hình ngày càng giống lời quảng cáo “không có cái dở nhất, chỉ có cái dở hơn”. Chỉ đáng tiếc là giải “Mâm xôi vàng” của Hollywood vẫn chưa trao cho lĩnh vực tiểu thuyết, nếu không thì người Trung Quốc đã có cơ hội thể hiện mình trên trường quốc tế. Vì vậy, đọc tiểu thuyết Trung Quốc có thể dễ dàng khơi dậy lòng tự tin của mọi người. Sau khi Lâm Vũ Tường đọc hàng chục cuốn, sự tự tin của cậu tăng lên đến mức nghĩ rằng mình đã đọc no rồi, không phải cái no của con người có thể đạt tới, mà là cái no của con ếch trước kỳ ngủ đông, hôm nay một khi đã no thì trong thời gian dài không cần ăn nữa.
Thế là Lâm Vũ Tường chẳng đọc cuốn sách nào nữa, ngay cả sách Ngữ văn cũng vứt bỏ. Ở bậc tiểu học, với nền tảng của cậu thì vượt qua rất dễ dàng. Nhưng sau khi lên trung học thì dần dần cảm thấy đuối sức. Thêm vào đó, giáo viên dạy Ngữ văn cũ của cậu cũng không ưa tính cách cao ngạo của cậu, liền vội vàng dùng Tuân Tử để khuyên răn, nói nào là: “Quân tử lo tu dưỡng bên trong, còn sự nhường nhịn thì biểu hiện ra bên ngoài”. Thấy không có kết quả, lại dùng Trang Tử để dọa nạt: “Kẻ không khoan dung được người khác thì không có người thân, không có người thân thì bị mọi người ruồng bỏ”. Vẫn không hiệu quả, đành phải dùng Lão Tử để mắng cậu, nói rằng Vũ Tường là người “Cái chính trực lại bị coi là kỳ quái, điều thiện lại bị xem là xấu xa”, rồi dự đoán rằng “Người này lòng dạ không rộng, kiêu ngạo mà không có tài, học mà không tinh, nhu nhược nhưng lại giỏi phô trương, tất sẽ không giữ được khí tiết, khó thành đại sự”. Điều thật không ngờ là vị giáo viên Ngữ văn ấy lại mất khí tiết sớm hơn Lâm Vũ Tường một bước và biến mất trước khi khai giảng. Chỗ trống để lại phải được lấp đầy bởi Mã Đức Bảo.
Lâm Vũ Tường nhận được sự công nhận Mã Đức Bảo nên rất trung thành với Mã Đức Bảo. Mã Đức Bảo cũng gửi tuyển tập tiểu luận “Cuộc đời lang bạt” của mình cho Lâm Vũ Tường, khiến Lâm Vũ Tường say mê không thôi. Từ đó cậu thường cùng Mã Đức Bảo ra vào có đôi, cùng nhau thảo luận vấn đề. Hai người một trái một phải, thân mật khăng khít. Các bạn học vốn dĩ đã có ấn tượng không tốt về Lâm Vũ Tường, thấy bên cạnh cậu lại thường xuyên có Mã Đức Bảo, thì ấn tượng đối với Mã Đức Bảo cũng chẳng khá hơn. Giống như tất của chân trái hôi, thì chẳng có lý do gì tất của chân phải lại không hôi.
Trên thực tế, Lâm Vũ Tường đã ấp ủ mong muốn gia nhập câu lạc bộ Văn học từ hai năm trước. Không phải cậu muốn cống hiến hết mình cho văn học, mà bởi vì vị giáo viên đảm nhận chức chủ nhiệm tin tưởng chắc chắn rằng nền tảng của việc viết lách hay là phải có kiến thức đầy đủ và rộng rãi. Vị giáo viên đó là một người nghiện du lịch và đã đi bộ hàng chục ngàn dặm khắp đất nước, đến Hồng quân cũng khó mà sánh kịp. Sau khi trở về, thầy giới thiệu lại cho học sinh. Học sinh nghe thầy miêu tả sinh động, cảm giác cứ như đang nghe điện thoại của người yêu, chỉ thỏa được cơn nghiện tai mà không thỏa được cơn nghiện mắt, bài văn vẫn chẳng khá lên. Thế là chủ nhiệm hội bắt đầu dẫn họ đi dã ngoại. Ban đầu thì lấy tư liệu ngay gần, chuyên chạy về nông thôn. Mấy lần đầu, học sinh thị trấn nhìn thấy lợn thì mừng rỡ đến mức lưu luyến không nỡ rời, nhưng đi nhiều rồi, lại mất hứng với lợn, thế là cũng mất hứng với nông thôn. Sau đó thì đi xa hơn một chút, một mạch tới Đồng Lý. Khi trở về, một nữ sinh xúc cảm bùng nổ, viết thành bài “Nước Giang Nam”, trữ tình sâu sắc, giành được giải nhất cuộc thi viết văn cấp thành phố. Câu lạc bộ Văn học tồi tàn này vốn dĩ xưa nay chỉ xứng theo sau các trường khác nhặt nhạnh xương vụn, nay lại giành được giải thưởng lớn như vậy thì quả là hiếm có trong lịch sử, bèn quy hết công lao của nữ sinh đoạt giải cho việc du lịch. Kết quả là câu lạc bộ Văn học biến thành công ty du lịch, khiến những người trong các câu lạc bộ khác phải đỏ mắt ghen tị.
Lâm Vũ Tường cũng là một trong những kẻ đỏ mắt ghen tị ấy. Năm lớp bảy, cậu đi thi tuyển vào câu lạc bộ Văn học, nhưng bỗng quên mất “Cha và con” là do ai viết nên bị loại. Lần thứ hai nộp hai bài văn, nhưng lại đi sai đường khi vạch trần hiện tượng sinh viên đi du học rồi không về nước, quên mất việc ca tụng, thế là lại bị gạt ra. Lần thứ ba thì khôn ngoan hơn, ra sức ca ngợi, tưởng rằng trúng tuyển đã chắc, nào ngờ bình thường ít hát bài ca tụng, đến lúc then chốt lại không hát nổi hơn người ta, chẳng hát ra được ý mới, cũng chẳng hát ra được tình cảm, lại trượt lần nữa. Từ đó trở đi cậu hoàn toàn thất vọng với Văn học. Lần này được tham gia câu lạc bộ Văn học, cậu vui mừng đến mức những nỗi buồn lần trước đều bị gạt bỏ.
Thứ sáu tuần đó có hoạt động của câu lạc bộ Văn học vào buổi chiều. Trên đường đi, Lâm Vũ Tường nói với Mã Đức Bảo: “Thầy Mã, trước đây bọn em chọn người viết bài giống như chọn ca sĩ, ai biết hát thì được lên.”
Mã Đức Bảo mới làm thầy giáo được một tuần, dần dần cũng ra dáng, trong lòng khen học sinh ví von thật tuyệt diệu, miệng thì thay thầy cô kêu oan: “Thực ra làm giáo viên như chúng tôi cũng rất khó xử, phải bồi dưỡng học sinh phát triển toàn diện, phải tích cực tiến lên, mà quan trọng hơn cả là phải lớn lên một cách lành mạnh”. Hàm ý trong lời nói ấy là học sinh chính là hoa hướng dương, trước mắt chỉ có thể là ánh mặt trời, trái lại thì sẽ bị phát triển không tốt.
“Vậy gần đây có hoạt động gì không ạ?”
“Ồ, chỉ là giảng một chút về nguyên lý văn học, kỹ xảo sáng tác thôi. Văn học mà, viết nhiều tự nhiên sẽ khá lên.”
Vũ Tường sợ mình không có năng lực làm việc xa rời thực tế, lại dò hỏi thêm: “Vậy không tổ chức hoạt động ngoài trời ạ?”
“Đó là việc nhà trường cân nhắc, tôi chỉ chịu trách nhiệm dạy các em cách viết văn, viết sao cho hay.” Mã Đức Bảo biết rằng chịu trách nhiệm không nhất thiết đồng nghĩa với hoàn thành trách nhiệm, nói đến đây giọng cũng trở nên thiếu chắc chắn.
Vũ Tường hiểu được tân chủ nhiệm là loại người không bao giờ ra khỏi nhà, nên sự nhiệt tình với câu lạc bộ Văn học đột nhiên giảm đi một nửa. Đi đến trước cửa câu lạc bộ Văn học, Mã Đức Bảo vỗ vai Lâm Vũ Tường và nói: “Viết hay đi, sau này tôi sẽ cho em tham gia cuộc thi. Em phải tranh giành danh tiếng cho mình.” Bên trong đã chật kín người, thời đại này vẫn còn rất nhiều người ngưỡng mộ Văn học. Có thể xem rằng Văn học đã cũ rồi, vì cái gì càng cũ thì càng hấp dẫn. Nhưng cũng có thể xem Văn học còn rất non trẻ, vì mỹ nhân càng trẻ thì càng có nhiều người theo đuổi. Tuy nhiên, dù Văn học còn quá trẻ đến mức dịu dàng hay quá già đến mức sắp chết đi nữa thì nó cũng không thể nào là sự trưởng thành của tuổi trung niên.
Mã Đức Bảo tự giới thiệu và nói: “Tôi mang đến cho các em món quà ra mắt.” Các học sinh đều ngạc nhiên, trong lịch sử chỉ có học sinh mới có nghĩa vụ tặng quà cho giáo viên, và không có quy định nào về việc giáo viên tặng quà cho học sinh.
Mã Đức Bảo lấy từ dưới bục ra một chồng sách nói: “Đây là sách do tôi viết, phát tặng cho mỗi người một bản”, sau đó sách được phát cho từng người một. Thật kinh ngạc về sức sống mãnh liệt của 200 cuốn sách này, sau khi đã phát một cách phung phí cho mọi người rồi mà vẫn còn nhiều đến vậy. Các thành viên câu lạc bộ nhận được sách và tất cả đều đọc nó. Thấy có người đang thưởng thức kiệt tác của mình, Mã Đức Bảo không đành lòng chen ngang. Ông ta im lặng trong vài phút, đột nhiên nhìn thấy một nam sinh đang ngồi trong góc, lật một lúc qua mười trang. Mã Đức Bảo cũng thường học như thế này, nhưng hôm nay vai trò của ông đã thay đổi nên ông cảm thấy buồn bã khôn tả. Nhưng cuốn sách đã được tặng rồi, ông không thể can thiệp được, giống như một người mẹ nhìn thấy con gái mình đang đau khổ ở nhà chồng. Nhưng Mã Đức Bảo không thể chịu đựng được nữa, dùng lời nói bóng gió: “Một số học sinh có thói quen đọc rất tệ, đọc quá nhanh, như vậy các em không thể hiểu được suy nghĩ của tác giả, các em nên đọc chậm thôi.”
Câu nói này khiến những người muốn lật trang không dám lật, họ chỉ có thể ngơ ngác nhìn mấy dòng cuối cùng. Thực ra nếu không lật trang cũng không ảnh hưởng gì, bởi vì tản văn của Mã Đức Bảo phân tán rất triệt để, mọi bài viết đều giống như tấm kính bị rơi từ trên cao xuống và vỡ tan rồi được gom lại, e rằng ngay cả “chuyên gia tích hợp” mà tác gia Chiêm Khắc Minh nhắc đến cũng không thể ghép lại được.
Vũ Tường lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh nam sinh đang lật sách như bay. Hai người chưa bao giờ gặp nhau, nam sinh kia phàn nàn với cậu: “Cuốn sách này tệ quá, đọc kiểu gì cũng không hiểu nổi”.
Lâm Vũ Tường nhận thấy một người bạn mới, mặc kệ trong lòng thầm cảm thấy có lỗi với người bạn cũ, liền gật đầu và nói: “Đúng vậy.”
“Tên cậu là gì?” Lâm Vũ Tường hỏi.
Cậu nam sinh mở cuốn sổ ra và viết tên mình vào đó.
“La Thiên Thành, chữ viết của cậu rất đẹp.”
La Thiên Thành không khách khí nói: “Đúng vậy, nó được gọi là thể chữ La!”, hắn hài lòng nhìn chằm chằm vào chữ viết đó, như đang nói chuyện với chữ rằng: “Bạn tên là Lâm Vũ Tường phải không? Tôi đã nghe nói đến tên của bạn.”
Tất cả những người theo đuổi danh lợi đều thích nghe câu này nhất. Lâm Vũ Tường trong lòng trả lời: “Đúng là ta đây,” và cười xấu hổ nói: “Thật sao?”
La Thiên Thành tựa hồ không nghe Lâm Vũ Tường nói. Câu nói “Thật sao?” của Lâm Vũ Tường ngưng đọng trong không khí, chờ đợi phản ứng.
“Cái xương sườn ở trên kia tên là gì thế? Tôi thấy ông ta thân với cậu lắm.” Lâm Vũ Tường không muốn bị xếp chung sống với cái “xương sườn”, khinh khỉnh đáp: “Ông ta là một thầy giáo của tôi, thấy tôi sau này sẽ có tiền đồ lớn, nên cố ý làm thân với tôi đấy.”
“Tôi đoán là cậu đang muốn tiếp cận ông ta đúng không?” La Thiên Thành lạnh lùng nhìn Vũ Tường và vạch trần lời nói dối. Cảm giác hư vinh mà Vũ Tường khổ công xây dựng đều bị xóa bỏ bởi câu hỏi ngược lại đó. Trong cơn đau khổ, cậu ta cố nở một nụ cười, và cũng lười nói chuyện với một kẻ lập dị như La Thiên Thành.
Mã Đức Bảo cuối cùng cũng bắt đầu nói. Đây là lần đầu tiên ông ấy dẫn dắt một nhóm người yêu Văn học, thực ra là những người yêu thích du lịch, trước tiên ông ấy phải thánh hóa bản thân. Đêm qua ông ta đã thức đến nửa đêm, nghiên cứu kinh điển, lật qua vài cuốn sách để cuối cùng viết ra bài giảng hôm nay. Ông ta mở miệng nói:
“Văn học là một loại hình thưởng thức cái đẹp, trân trọng cái đẹp. Trong trường hợp này, trước tiên chúng ta phải hiểu cái đẹp là gì. Có một môn khoa học nghiên cứu về cái đẹp, gọi là Mỹ học. Không có môn khoa học nào nghiên cứu về cái xấu nên chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của cái đẹp là lớn như thế nào”. Mã Đức Bảo dừng lại, nhằm tạo cơ hội cho các hội viên bật cười. Không ngờ phía dưới im lặng đến chết người, Mã Đức Bảo tự trách mình đã nói quá sâu trong khi sự hiểu của các học sinh lại kém. Ông ta bắt đầu hoảng sợ và đầu óc hỗn loạn. Sau khi uống một ngụm nước để ổn định bản thân, ông ấy vẫn chưa kịp nghĩ xem mình nên nói gì tiếp theo. Mã Đức Bảo không còn cách nào khác, đành phải thụ động tìm kiếm trong trí nhớ trống rỗng của mình, tựa như đang tìm kiếm một vật nhỏ trong bóng tối.
Mã Đức Bảo cảm thấy ánh mắt của các học sinh đang chú ý đến mình, và ông sắp toát mồ hôi. Biện pháp cuối cùng, ông ấy mở sách ra và xem đề cương đã chuẩn bị, và mau chóng nhận ra mình cần nói gì, chỉ trách sự chậm chạp của mình:
“Một trong những nhà Mỹ học nổi tiếng nhất ở Trung Quốc là Chu Quang Tiềm, mọi người đều quen thuộc với vị này nên tôi sẽ không giới thiệu thêm nữa.” – Thực ra là tối qua tôi không tìm thấy thông tin gì. “Còn có môt vị nữa là Tưởng Khổng Dương, giáo sư của đại học Phục Đán, tôi biết ông ấy!” Ông ta gần như đã nói: “Tôi mới gặp ông ấy tối qua”. Như những gì ông ta nói thì có vẻ như ông ấy và Tưởng Khổng Dương là bạn thân sinh tử.
Để chứng minh lời nói của mình, Mã Đức Bảo đã phải đạo văn một đoạn trong bài viết của Chu Lập Nguyên, một học trò của Tưởng Khổng Dương khi nhớ lại người thầy của mình: “Khi tôi đến thăm ông ấy lúc đó, ông ấy hỏi tôi rất kỹ. Khi ông ấy hỏi về nội dung cuốn “Vẻ đẹp trong các mối quan hệ” của Địch Đức La, tôi đã đưa ra ví dụ về những phân tích của Địch Đức La về vở bi kịch “Horace” của Corneille, và nói về câu nói chủ chốt của ông già Horace “Hãy để ông ta đi chết đi”, ông ấy đã nhẹ nhàng sửa lại nói: “Là hãy để ông ta chết.” Việc cực kỳ nhỏ nhặt này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi.” (Trích từ “Giai thoại Phúc Đán”, nhà xuất bản Liễu Hải, trang 179) Thật không dễ để nói những lời của người khác một cách chân thành như Mã Đức Bảo. Nhưng tất cả những tên trộm lần đầu phạm tội đều sẽ lo lắng khi tiêu tiền bất chính. Mã Đức Bảo đọc xong, hồi hộp chú ý đến phản ứng bên dưới, sợ nghe thấy giọng nói “Thầy ơi, em đã đọc qua đoạn này rồi”, nên đã huy động tất cả trí tuệ sẵn có trong cơ thể để chuẩn bị giải thích. May mắn thay, học sinh bây giờ không có thời gian để đọc sách ngoài việc ôn thi nên mọi thứ họ nghe đều có vẻ giống như sự thật.
Mã Đức Bảo một lần nữa nói về mối quan hệ giữa thần thoại Hy Lạp và Mỹ học.
La Thiên Thành đẩy Lâm Vũ Tường mấy cái, hỏi: “Bạn có hiểu ông ấy đang nói cái gì không?”
“Đang kể chuyện. Có trời mới biết.”
La Thiên Thành biến thành trời, nói: “Tôi biết, ông ta là cố ý khoe khoang, giả làm một loại đại học giả nào đó, ha…”
Lâm Vũ Tường nghe không có hứng thú. Sự hiểu biết về cái đẹp của cậu còn ở giai đoạn sơ khai, chưa tinh vi như Mã Đức Bảo. Buồn chán không còn cách nào khác nên đã lật qua cuốn sách “Cuộc đời lang bạt” và nhìn thấy một bài có tựa đề “Gió dọc đường ray”, liền nghĩ đến hai người bạn thuở nhỏ của mình, khẽ thở dài và đọc tiếp. Mã Đức Bảo lúc đầu giả làm ma và viết: “Tôi có linh cảm rằng mình sẽ lang thang dọc theo đường ray.” Sau linh cảm, ông ta viết một bài văn xuôi:
“Hai đường ray, ngàn dòng nước mắt. Khi gió thổi, nó lặng lẽ chìm vào giấc ngủ trong vòng tay ấm áp của đất, chìm vào giấc ngủ say. Trời gần sáng rồi. Hàng ngàn sợi sầu đang cuộn tròn, quấn vào bầu trời đêm dày đặc những ý nghĩ chia ly, xoáy tít và tan biến trên trái đất xanh thẫm này.
Đi dọc theo cô ấy, như một cơn gió. Một đêm buồn thế, bạn sẽ kéo dài nó đến đâu? Bạn sẽ chọn con đường nào? Bạn nên đi theo gió. Trăng xanh cũng theo hướng gió. Ở một nơi xa, đám mây đó…”
Vũ Tường nghĩ rằng bài viết này chắc chắn là bài viết hay nhất trong cuốn sách, và cậu rất vui vì bất ngờ phát hiện ra một bài viết hay. Thực tế là cậu đã không đọc cuốn “Cuộc đời lang bạt” một cách đúng đắn. Việc ái mộ ban đầu chỉ vì nó là cuốn sách chứ không phải nội dung trong cuốn sách. Lần này, cậu thực sự đã nhặt được thứ gì đó hay từ đống rác, và lại ái mộ lần nữa.
Bài giảng đầu tiên của Mã Đức Bảo giảng về thế nào là đẹp, mất hai giờ và giao một bài văn nghị luận. Khi chuẩn bị cho bài giảng thứ hai về làm cách nào để chọn bài văn đẹp giữa muôn vàn chúng sinh, vì lười viết toàn bộ nên chỉ viết nguệch ngoạc “Làm sao chọn cái đẹp” trên giáo trình. Bài giảng thứ ba nói về việc trích đoạn và cảm nhận sau khi tìm được bài văn hay, gọi là “Sau khi chọn cái đẹp”. Bài giảng thứ tư khi chọn cái đẹp xong xuôi thì làm sao viết được bài văn hay như thế. Mọi kế hoạch trong tháng đã được thực hiện, điều tuyệt vời nhất trên đời là được trở thành giáo viên, ngoại trừ ngày trả lương đau đớn, còn lại hai mươi chín ngày đều là hạnh phúc.
Lâm Vũ Tường trở về nhà và báo tin vui cho cha mình rằng cậu đã tham gia câu lạc bộ Văn học. Cha của Lâm Vũ Tường thấy con trai mình cuối cùng làm được một điều gì đó vĩ đại và muốn ăn mừng. Chỉ là do vợ đi vắng mà bản thân thì không thể nấu ăn. Bếp ở hầu hết các gia đình ngày nay đều giống như nhà vệ sinh nữ mà đàn ông không bao giờ vào. Ông tỏ ra thích thú và có vẻ ngây thơ như trẻ con, ông hỏi con trai: “Vợ ta không có ở đây, giờ phải làm sao?”
Lâm Vũ Tường chỉ vào chiếc hộp trong góc và nói: “Chúng ta hãy ăn mì gói đi.” “Bà xã” của Lâm gia hiếm khi trở về nhà, bà ấy chơi mạt chược nhiều đến mức quên ăn quên ngủ, và tất cả những người bạn mạt chược của bà ấy đều là những nhân vật nổi bật trong thị trấn. Ví dụ như Triệu Chí Lương, thị trưởng của thị trấn này, là bạn học cấp hai của mẹ Lâm. Họ đều đến từ thời kỳ đó, những năm tháng lãng phí luôn không thể tách rời khỏi hai chữ “lãng phí”. Trong thời kỳ “Cách mạng Văn hóa” về quê thì xoắn dây thừng gai, sau này lăn lộn lên làm thị trưởng thì lại xoắn bài mạt chược. Chơi mạt chược cho đến mức gù cả lưng, đó chính là hiện thân ý nghĩa thực sự của việc lãng phí tháng ngày. Ngoài ra, còn có một nhóm lãnh đạo trong thị trấn ban ngày họp bàn về tầm quan trọng của việc cấm cờ bạc trong việc xây dựng nền văn minh tinh thần của người dân, ban đêm họ liền đi sâu vào quần chúng và hòa nhập với người dân. Mẹ của Lâm Vũ Tường đã thiết lập một tình bạn cách mạng sâu sắc với tất cả các đồng chí trên bàn mạt chược, giá trị tài sản ròng của bà tăng gấp đôi và bà trở nên nổi tiếng cả trong và ngoài thị trấn. Bằng cách này, cha của Lâm Vũ Tường không thể nổi giận. Một khi ông nổi giận, là ông đã đi ngược lại với Đảng và nhân dân, vì vậy khi cái đói tìm đến, hai người đàn ông thường phải ăn mì gói để tồn tại. Nhưng lần này, cha của Lâm Vũ Tường kiên quyết từ chối lời đề nghị của con trai, nói rằng muốn thử cái gì mới mẻ nên đã chạy ra ngoài mua hai hộp đồ ăn. Lâm Vũ Tường đã lâu không được ngửi mùi cơm, sau khi gia nhập câu lạc bộ Văn học dù tai có đau nhưng miệng lại được phúc, đem so ra thì vẫn có giá trị.
Hai người đàn ông không ngờ rằng mẹ Lâm lại về nhà. Mẹ Lâm cũng không biết làm sao, hôm nay bà đi muộn một bước, chỉ có thể ngồi bên nhìn. Mạt chược là cái môn mà chỉ có thể vui khi chơi, còn làm khán giả bên ngoài là một loại tra tấn về thể xác và tinh thần, nên bà đã về nhà sớm. Kể từ khi mẹ Lâm bị ám ảnh bởi mạt chược, bà giống như một con cú, ban ngày không nhìn thấy đường về nhà và chỉ có thể phân biệt được đường về nhà vào đêm khuya.
Cha Lâm tưởng bà quay lại lấy tiền nên cúi đầu nhặt cơm mà không nói một lời. Lâm Vũ Tường không thể chịu đựng được mẹ mình, nhẹ nhàng nói: “Bố, mẹ nợ bố bao nhiêu tình cảm.”
“Cái này con không hiểu đâu. Nợ ai đó tình cảm và nợ ai đó tiền đều giống nhau, mẹ con trong lòng cũng không cảm thấy dễ chịu đâu.”
Mẹ Lâm rốt cuộc còn biết nhà bếp ở đâu nên đã đeo tạp dề vào bếp nấu ăn, nũng nịu nói: “Hai người đàn ông lớn đầu đáng chết đói, nấu nướng cũng không biết nấu nướng, chỉ tốn tiền mua cơm hộp thôi. Đây, tôi xào cho ít rau đây.”
Cha Lâm nghe thấy đã rất cảm động và muốn đi vào giúp đỡ. Điều này đủ cho thấy có sự khác biệt lớn giữa việc nợ tiền và nợ tình cảm. Ví dụ, nếu ai đó nợ bạn một khoản tiền và đã lâu không trả, bạn hoàn toàn thất vọng, lúc này người đó bất ngờ trả lại cho bạn, và bạn sẽ cảm thấy đó là của cải không liên quan chứ không phải tiền của bạn, rồi bạn sẽ tiêu xài phung phí. Nhưng nếu ai đó nợ bạn tình cảm và lâu ngày không trả, thì khi người đó trả lại tình cảm cho bạn, bạn sẽ càng trân trọng nó hơn.
Vũ Tường thầm cười trong lòng. Cha Lâm giúp mẹ xong, nghĩ đến chuyện chính liền hỏi: “Vị thầy giáo khen ngợi con là ai…?”
“Thầy Mã, Mã Đức Bảo.”
“Mã Đức Bảo! Là người này!” Cha Lâm kinh ngạc đến mức suýt nhảy dựng lên.
Lâm Vũ Tường đoán có chuyện không hay xảy ra. Giọng điệu của cha cậu như đang truy đuổi kẻ thù, niềm tự hào vừa rồi của cậu trong khoảnh khắc đã xì hơi hết sạch trơn, liền hỏi: “Có chuyện gì vậy ạ?”
Cha Lâm lắc đầu nói: “Người như vậy làm sao có đi dạy con em người khác? Bố biết anh ta, anh ta ngoan cố và… này, anh ta căn bản không phải là giáo viên.”
Lâm Vũ Tường không nhận thấy sự ngoan cố của Mã Đức Bảo và cho rằng mọi thứ ở ông ta đều ổn, những người cùng loại không thể tìm ra những khuyết điểm chung. Nhưng cậu luôn làm theo sự dẫn dắt của cha và hỏi: “Thật sao bố? Chắc là một chút thôi.”
Cha của Lâm Vũ Tường không chịu bỏ cuộc: “Anh ta nhìn sự việc quá cực đoan. Nếu anh ấy nghĩ là điều tốt thì người khác không thể nói là điều xấu. Anh ấy rất nông cạn. Anh ấy chưa bao giờ học đại học và chỉ xuất bản một vài bài báo…”
“Nhưng bố ơi, gần đây ông ấy đã xuất bản một cuốn sách.”
Cha Lâm tức giận đến mức muốn tàn sát toàn bộ thế giới xuất bản, liền nói: “Thế giới ngày nay toàn xuất bản sách có hại cho con người!” Sau khi diệt trừ thế giới xuất bản, ông cảm thấy mình cũng hơi cực đoan nên đã sửa lại, liền nói: “Sách đâu? Có không? Mang ra đây xem.”
Lâm Vũ Tường không biết rằng cha mình có ác cảm với thầy giáo của mình nên đã lấy cuốn sách ra và đưa nó cho cha mình. Khi nhìn thấy tựa đề cuốn sách, cha Lâm nói: ” Không được”, và sau khi đọc phần tóm tắt, ông ấy lắc đầu đến mức gần như muốn gục đầu xuống.
Mẹ của Lâm Vũ Tường vừa mới bắt đầu nấu ăn thì có cuộc gọi đến giục bà đi chơi mạt chược, bà sốt ruột đến mức bỏ cả món ăn đang nấu dở trong nồi. Cha Lâm đưa bà xuống lầu và bảo bà về sớm, thực ra mẹ Lâm luôn về nhà rất sớm, nhưng đó là vào sáng sớm hôm sau.
Lâm Vũ Tường nhìn bóng lưng của cha mình và tự nhủ: “Ha, sòng bạc tạo ra người điên, tình trường tạo ra kẻ ngốc.”