Nhìn vào lịch sử và tình hình hiện tại của Trung Quốc, có thể kết luận rằng người Trung Quốc về cơ bản là một dân tộc không có tín ngưỡng. Không có tín ngưỡng không có nghĩa là không có hình thức tín ngưỡng. Trong lịch sử, Trung Quốc cũng có Phật giáo truyền bá từ Ấn Độ, Hồi giáo truyền bá từ Tây Vực, Đạo giáo do người Trung Quốc tự sản sinh, và được du nhập sau này là Công giáo, Tin Lành, v.v.. Một số người thậm chí còn tin rằng hầu hết tất cả các tôn giáo tồn tại trên thế giới đều có thể được tìm thấy ở Trung Quốc. Trung Quốc giống như biển cả về mặt tín ngưỡng. Người Trung Quốc có thể dung thứ tất cả các tôn giáo mà người khác không thể dung thứ được. Những kịch bản lịch sử và đời thực trong đó sự cuồng tín về niềm tin tôn giáo đã dẫn đến những trận chiến đẫm máu và thậm chí là chiến tranh giữa các quốc gia như ở Trung Đông và phương Tây đơn giản là không thể xảy ra với người Trung Quốc. Người Trung Quốc chỉ tranh giành quyền lực thế gian và tiền bạc. Ngay cả đối với hầu hết mọi người, việc giết người vì quyền lực và tiền bạc là điều hiếm khi xảy ra. Về vấn đề này, người Trung Quốc thích sử dụng mưu mô hơn là sử dụng vũ khí giết người. Trong suy nghĩ của người Trung Quốc, “Thần” chỉ có thể là một công cụ hữu ích. Người ta chỉ cầu nguyện với Thần và nghĩ đến Thần khi họ đang cần gấp, như người Trung Quốc có câu nói: “Khi rảnh rỗi không thắp hương, chỉ khi vội mới cuống cuồng ôm chân Phật”, chính là phản ánh tâm lý này.
Về hình thức tôn giáo, người Trung Quốc sẵn sàng tin vào mọi thứ, tin Phật, tin Bồ Tát, tin Thánh A La, tin Thượng Đế, tin Chúa Giêsu, tin Lão Tử, tin Khổng Tử, tin tổ tiên, tất cả các vị Thần, tất cả các vị Tiên, tất cả ma quỷ, và thậm chí cả thầy cúng, phù thuỷ. Điều này cho thấy niềm tin của người dân Trung Quốc lan rộng và thái quá đến mức nào. Tin vào mọi thứ chỉ có nghĩa là không tin vào điều gì hoặc là mê tín về mọi thứ. Mê tín có nghĩa là thiếu niềm tin, hoài nghi hoặc đánh mất giá trị đích thực của niềm tin. Từ đó có thể nói rằng người Trung Quốc truyền thống thiếu tinh thần tín ngưỡng chân chính, và người Trung Quốc là một dân tộc không có tinh thần tín ngưỡng.
Người phương Tây không chỉ kế thừa tinh thần truyền thống về tín ngưỡng và truyền thống tìm kiếm tri thức, mà những giáo lý Kitô giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo còn chứa đựng tinh thần yêu thương người khác. Về mặt tinh thần, người phương Tây do có trạng thái tinh thần cởi mở từ xa xưa nên về cơ bản họ đã toàn diện và đầy đủ. Người Trung Quốc chỉ kế thừa truyền thống nhân ái từ các vị Thánh nhân thời xưa, nhưng thiếu truyền thống tín ngưỡng và truyền thống tìm kiếm tri thức. Chính họ đã tạo ra một loại truyền thống tâm linh nào đó và tri thức giả để thay thế. Hai truyền thống giả tạo này đã gây nên thời Trung cổ kéo dài trong lịch sử Trung Quốc.
Điều tôi muốn trả lời bây giờ là tại sao người Trung Quốc lại thiếu truyền thống tín ngưỡng chân chính, và tại sao người Trung Quốc lại tự tạo ra truyền thống tín ngưỡng sai lầm?
Tinh thần tín ngưỡng thực sự là gì và bản chất của nó là gì? Tác giả cho rằng bản chất của tinh thần tín ngưỡng chân chính là sự thừa nhận trừu tượng về sự tồn tại vĩnh cửu của sự sống. Đối tượng được xác định một cách trừu tượng là sự vĩnh hằng này là quy chiếu tối cao vượt lên trên mọi sự, đặc biệt là toàn bộ bản chất con người, đó là Thượng Đế, ba ngôi Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong Hồi giáo là Thán A La. Kitô giáo và Hồi giáo đều là những tôn giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo và chỉ tôn thờ một vị Thượng Đế. Vị Thượng Đế duy nhất này đại diện một cách trừu tượng cho sự tồn tại vĩnh cửu và quyền tối cao của sự sống, bao gồm cả sức mạnh cao nhất, nghiêm khắc nhất, sáng chói nhất, toàn năng và vô biên. Bản chất của tinh thần tín ngưỡng được đánh giá bởi ba yếu tố, đó là tính tối cao, vĩnh cửu và trừu tượng. Quyền lực tối cao và sự vĩnh cửu là đặc điểm của đối tượng bên ngoài của tinh thần tín ngưỡng, và sự trừu tượng là một phương pháp tư duy cần thiết để đạt được sự hiểu biết về quyền lực tối cao và sự vĩnh cửu. Nói cách khác, không thể đạt đến Thượng Đế siêu việt bằng các phương pháp tư duy cụ thể hoặc thậm chí giàu trí tưởng tượng mà chỉ có thể đạt được bằng các phương pháp tư duy trừu tượng.
Vì Thượng Đế có mặt ở khắp mọi nơi, hiện diện với sự sống, có tri giác và nhận thức, vô cùng tối cao và tồn tại mãi mãi. Hãy tưởng tượng, những thứ mà con người chúng ta nhìn thấy có đủ tư cách để mô tả điều đó không? Cả Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất đều không làm được chứ đừng nói đến con người. Con người dù có “vĩ đại” đến đâu cũng không biết mình nhỏ bé đến thế nào. Làm sao con người có thể chắc chắn về sự tồn tại thực sự của Thượng Đế nếu không sử dụng tư duy trừu tượng? Tinh thần tín ngưỡng thực sự, nói một cách thẳng thắn, là tinh thần suy nghĩ trừu tượng về quyền tối cao và sự vĩnh cửu. Đấng tối cao và vĩnh cửu không có tư tưởng trừu tượng thì không phải là Đấng tối cao và vĩnh cửu tuyệt đối. Nói một cách rõ ràng hơn, tư duy trừu tượng là tư duy tuyệt đối và duy nhất, và chính tư duy đó tiếp tục hướng tới “chân lý” vĩnh cửu. Chỉ quốc gia nào phổ cập được lối tư duy trừu tượng này về quyền lực tối cao tuyệt đối, độc nhất và vĩnh cửu mới là quốc gia thực sự có tinh thần tín ngưỡng. So sánh điều này với người Trung Quốc, có thể kết luận rõ ràng rằng người Trung Quốc không thể là một dân tộc có tinh thần tín ngưỡng thực sự. Chính vì lý do này, văn hóa Trung Quốc là một nền văn hóa đặc biệt yếu kém trong việc theo đuổi chân lý, bởi vì con người chỉ có thể tiếp cận chân lý vĩnh cửu thông qua tư duy trừu tượng cao độ về tính tuyệt đối và duy nhất. Người Trung Quốc thiếu tư duy trừu tượng về tính tuyệt đối và duy nhất, nhưng họ bị ám ảnh bởi tư duy cụ thể về tính tuyệt đối và duy nhất. Người Trung Quốc không trừu tượng hóa những thuộc tính tối cao và vĩnh cửu vào thế giới siêu việt. Trong hơn 2.000 năm, người Trung Quốc đã quen với việc chất chứa sự vĩnh hằng của quyền lực đế quốc tối cao bằng sự dối trá và lừa đảo, nhưng đã đánh mất quyền lực tối cao và vĩnh cửu của tinh thần trừu tượng. Tinh thần trừu tượng tối thượng và vĩnh cửu này chính là “chân lý”. Vì vậy, “chân lý” gần như bị thất lạc trong văn hóa Trung Quốc. Trong lòng người phương Tây, “chân lý” này gắn liền với Thượng Đế siêu việt nên người phương Tây đã có quan niệm “mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế” ngay từ 2.000 năm trước. Trong lòng người dân Trung Quốc, “chân lý” chỉ thuộc về “quân vương” và tất cả những người nắm giữ quyền lực. Trong khi người phương Tây run sợ trước Thượng Đế vì tội lỗi của chính mình thì người Trung Quốc lại run sợ trước những kẻ quyền thế “gọi hươu là ngựa”. Nếu muốn phân tích các lý do khác nhau, tôi nghĩ lý do sâu xa nhất có lẽ là người Trung Quốc thiếu tinh thần tín ngưỡng thực sự, bởi vì người Trung Quốc thiếu địa vị “chân lý” tối cao và vĩnh cửu trong lòng họ. Tinh thần thô tục sẽ mang đến hành vi thô tục, và tinh thần cao thượng sẽ mang đến hành vi cao thượng. Người Do Thái tin vào Thượng Đế, còn người Trung Quốc tin vào quyền lực thế tục. Thượng Đế và quyền lực trần thế là hai đỉnh cao không thể so sánh được. Người Do Thái và người Trung Quốc ở hai đầu đối lập nhau về khả năng chống lại cái ác. Niềm tin kiên trì vào Thượng Đế của người Do Thái khiến tinh thần chống cái ác của họ vô cùng mạnh mẽ. Truyền thống phục tùng quyền lực của người dân Trung Quốc đã làm suy yếu nghiêm trọng khả năng chống lại cái ác của họ. Tuy nhiên, dù họ đã mất đi quyền lực và đất nước bị làm nhục vô số lần, nhưng họ cũng đã vô số lần giành được tổ quốc còn rộng lớn hơn. Đây là phép biện chứng hay là sự châm biếm về tinh thần của con người? Tôi e rằng đó là cả hai và cũng không phải cả hai. Bởi vì tất cả những thuộc tính mâu thuẫn của cuộc sống vốn đã chứa đầy trong bản chất cơ bản của con người – cái ác nguyên thủy và ham muốn nguyên thủy.
Trong hơn 2.000 năm qua, mặc dù có ba trường phái tư tưởng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Trung Quốc: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, nhưng Nho giáo thực sự là quan trọng nhất. Như đã đề cập ở bài trước, kể từ thời Khổng Tử, người Trung Quốc đã hình thành thói quen ca ngợi uy quyền không ngừng. Những từ “to lớn”, “cao ngút”, “bao la” của Khổng Tử, và cho đến 2000 năm tiếp theo là những câu “Vạn tuế! Vạn vạn tuế” được vang lên không ngừng, đến thời hiện đại vẫn là “vĩ đại” và “vạn thọ vô cương” v.v., người Trung Quốc đã dành hết lời nói “tối cao” và “vĩnh cửu” cho quyền lực thế tục, không còn thời gian để quan tâm đến bản chất “tối cao” và “vĩnh cửu” của tinh thần con người. Nói chung, cái chết có thể khiến con người suy ngẫm nhiều nhất về mặt tinh thần. Tuy nhiên, kể từ Khổng Tử, người Trung Quốc chỉ chú trọng đến sự sống và thờ ơ với cái chết. Hơn nữa, họ sẵn sàng bỏ qua ma quỷ, thần thánh và những thứ tương tự. Trong sách Luận ngữ “Khổng Tử không nói về sự kỳ quái, dũng khí, nổi loạn, ma quỷ và thần thánh.” Khổng Tử nói: “Không phục được người thì làm sao phục được ma?” Khổng Tử nói: “Không biết sống thì làm sao biết chết?” Khổng Tử cố tình tránh tư duy trừu tượng hoặc thậm chí là sự giàu trí tưởng tượng mà chỉ tập trung vào tư duy cụ thể, tức là ông chỉ tập trung vào kinh nghiệm cụ thể của con người. Việc Khổng Tử “tế thần như thần có ở đó”, và “sống chết do số mệnh định đoạt, phú quý ở trên trời” là mê tín hơn là tín ngưỡng. Còn những gì ông nói về việc “tuổi năm mươi đã biết vận mệnh” thì cho dù không phải nói là khoe khoang, thì nhiều nhất cũng chỉ là ông ấy tin rằng kinh nghiệm phong phú của mình trong việc hiểu người và làm việc tương đương với việc “biết vận mệnh”. Bên cạnh đó, thái độ ôn hòa với con người và sự vật cũng ngăn cản ông ấy khỏi mọi tư duy trừu tượng cực đoan và tuyệt đối.
Để tìm hiểu sâu hơn nguyên nhân gốc rễ của việc thiếu tinh thần tín ngưỡng của người dân Trung Quốc, chúng ta phải tìm kiếm nó từ sự hiểu biết truyền thống của người dân Trung Quốc về bản chất con người và định nghĩa về cái thiện.
Người Do Thái giải thích qua Cựu Ước trong Kinh thánh của họ rằng họ là những người đầu tiên trong lịch sử, và tin rằng bản chất con người vốn là xấu xa. Mặc dù bản chất con người vốn là xấu xa và con người cần điều tốt để cùng nhau tồn tại, nhưng điều tốt này chỉ có thể đến từ bên ngoài, và nó đến từ thứ gì đó bên ngoài cao hơn tất cả con người. Thông qua tổ tiên của họ là Moses, người Do Thái lần đầu tiên phát minh ra một vị thần trừu tượng. Vị thần này đã đồng ý cho họ tất cả những điều răn mà người Do Thái phải tuân theo. Đây là Mười điều răn nổi tiếng của Moses. Kể từ đó, người Do Thái tin rằng điều tốt có nghĩa là tin vào Thượng Đế, tuân theo các thỏa thuận hoặc luật pháp của Thượng Đế, tìm kiếm sự tha thứ của Thượng Đế cho tội lỗi của mình và từ đó cứu được linh hồn của một người. Niềm tin bền bỉ vào Thượng Đế khiến người Do Thái tin chắc rằng họ là dân được Thượng Đế đặc biệt chọn. Có thể thấy, sự lựa chọn ban đầu của người Do Thái để tin vào Thượng Đế hoàn toàn xuất phát từ sự thắc mắc tự nhiên của con người nhằm tìm kiếm lợi ích và tránh bất lợi. Cơ sở nội tại để đưa ra lựa chọn này là sự phán xét của tổ tiên người Do Thái nguyên thủy về bản chất xấu xa cố hữu của con người.
Người Trung Quốc cũng có khuynh hướng tự nhiên tìm kiếm ưu điểm và tránh nhược điểm, nhưng điểm khác biệt cũng là cơ sở nội tại cho việc lựa chọn chủ thể của người Trung Quốc là sự phán xét nguyên thủy của Thánh nhân Trung Quốc về bản chất thiện của con người và định nghĩa cái thiện là khắc kỷ, lễ nhượng, hiếu đễ, trung thành và tha thứ. Theo Khổng Tử “lòng nhân” của nằm ở chỗ “tìm kiếm mọi thứ từ chính mình” và theo Mạnh Tử “mọi thứ đều ở chỗ bản thân”, điều này khiến người dân Trung Quốc về cơ bản không cần thiết phải tìm kiếm đức tin và sự cứu rỗi từ bên ngoài. Các điều kiện sinh thái tự nhiên và xã hội lịch sử lúc bấy giờ thực ra có lẽ là do nhận thức về bản thân của người Trung Quốc ít nghiêm khắc hơn nhiều so với người Do Thái. Trong mọi trường hợp, người Trung Quốc thực sự không tạo ra một tín ngưỡng tôn giáo như người Do Thái. Mặc dù người Trung Quốc có tục cúng tế tổ tiên và trời đất, nhưng những lễ hiến tế như vậy không mang tính tín ngưỡng tôn giáo nhiều mà chúng là những nghi lễ tưởng nhớ và để tang. Dù cầu xin điều gì, chúng ta cũng chỉ xin mưa thuận gió hòa trong hệ sinh thái tự nhiên chứ không cầu trời đất trừng phạt kẻ ác, nhất là không cầu cứu rỗi linh hồn con người. Người Trung Quốc không tạo ra một vị Thượng Đế trừu tượng vì người Trung Quốc không cảm thấy cần một vị Thượng Đế như vậy. Bắt đầu từ các vị Thánh nhân của mình, người Trung Quốc đã dành mọi lời chúc tốt đẹp cho bản chất tốt đẹp của con người các nhà lãnh đạo của họ, vì lý do này, họ không ngần ngại biến tất cả những đức tính đẹp đẽ, cao quý và trường tồn nhất trên thế giới thành những bài ca ngợi các nhà lãnh đạo. Đáng tiếc là hơn 2.000 năm lịch sử dù gần như hoàn toàn phản tác dụng, nhưng vẫn không ngăn được người dân Trung Quốc thoát khỏi lối hành xử mơ tưởng truyền thống và ngu ngốc này. Sự tồn tại của cái ác và ham muốn nguyên thủy trong bản chất con người là một sự thật vĩnh cửu. Tác dụng của việc khen ngợi chính quyền là không những không thực hiện được mong muốn tốt đẹp của người dân mà còn đẩy nhanh và mở rộng cái ác vốn có của chính quyền. Đây là một quy luật, một quy luật đã xuất hiện trong lịch sử hàng ngàn năm của Trung Quốc. Những điều con người cần dành cho giới cầm quyền không phải là sự khen ngợi, mà phải là dư luận hiệu quả thực tế, thể chế, và pháp lý… Tóm lại là những ràng buộc dân chủ.
Nho giáo không thể mang lại tinh thần tín ngưỡng chân chính cho người dân Trung Quốc, và Phật giáo hay Đạo giáo cũng không thể. Đạo giáo vốn không phải là một tôn giáo mà là một triết học ở Trung Quốc cổ đại (theo thuật ngữ hiện nay) với chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa thần bí. Đạo của Đạo giáo có sự trừu tượng của vĩnh cửu, nhưng không có sự trừu tượng tối cao. Đạo không phải là thần thánh, cũng không được nhân cách hóa mà có tình cảm và trí tuệ của con người như Thượng Đế của người phương Tây. Đạo giáo ban đầu không có ý định trở thành một chúa tể siêu nhiên hay siêu xã hội, chứ đừng nói đến vị cứu tinh của nhân loại, bởi vì Đạo giáo chủ trương xuất thế. Đặc điểm của tư duy Đạo giáo là chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa thần bí cũng ngăn cản nó tạo ra những trừu tượng tuyệt đối và duy nhất. Lịch sử Trung Quốc đã chứng minh rằng với tư cách là một tôn giáo, đối tượng thờ cúng của Đạo giáo (đối tượng trừu tượng của tín ngưỡng) không những không thể vượt qua quyền lực của thế tục mà còn thường xuyên bị quyền lực này sử dụng, chẳng hạn như những điều mà nó chủ trương: tĩnh lặng, không hành động, cao thượng, mềm mỏng, “Không dám đứng đầu thiên hạ”, “Nếu không khai sáng, tức là sẽ làm cho dân cho ngu”… đã trở thành công cụ tư tưởng hỗ trợ cho việc cai trị quyền lực. Niềm tin của Đạo giáo không những không có lợi cho việc con người theo đuổi chân lý mà còn chứa đầy một số lượng lớn các phép thuật mê tín dị đoan, chẳng hạn như làm bùa chú, vẽ bùa, trừ tà, tiêu trừ tai họa và các hoạt động lừa đảo khác. Rõ ràng Đạo giáo không thể tạo dựng được tinh thần tín ngưỡng thực sự cho người Trung Quốc.
Đối với Phật giáo cũng vậy. Từ lâu đã có người chỉ ra rằng Phật giáo là một tôn giáo vô thần, Phật và Bồ Tát không phải là những vị thần thánh mà là những vị thầy hướng dẫn con người thoát khỏi khổ đau của cuộc sống và nỗ lực tu luyện bản thân. Tư tưởng siêu việt của Phật giáo vượt trội hơn nhiều so với Đạo giáo, hay có thể nói cái sau được học từ cái trước. Thực ra, sự ra đời của Phật giáo có trước sự hình thành của Đạo giáo. Ban đầu, Trung Quốc chỉ có Đạo giáo chứ không có Đạo giáo nào được hình thành dựa trên Phật giáo. Mặt khác, Phật giáo dạy con người phải tu tập hướng nội hơn Nho giáo. Nó không chỉ khuyến khích con người sống buông bỏ bản thân, lễ độ, hiếu thảo, trung thành và tha thứ như Nho giáo mà còn khuyến khích con người từ bỏ mọi ham muốn ở trần gian này, làm những việc thiện vì kiếp sau. Đạt được sự giải thoát khỏi cái ác, đúng sai và đạt đến Niết bàn, tức là trạng thái hoàn toàn đoạn diệt.
Đức Phật không phải là người ủng hộ chủ trương rằng bản chất vốn có của con người là thiện, vì quan điểm của Ngài về sự đau khổ của cuộc sống, có lẽ Ngài thiên về bản chất xấu xa vốn có của con người. Điều kỳ lạ là Ngài không thuyết phục con người tìm kiếm sự cứu rỗi thông qua niềm tin vào Thượng Đế tối cao và vĩnh cửu như các nhà tiên tri Do Thái đã làm. Thay vào đó, Ngài kêu gọi mọi người hãy dập tắt mọi ngọn lửa tà ác và ham muốn nguyên thủy trong nội tâm của họ. Chẳng hạn, chúng ta dùng lửa sinh mệnh để đạt tới trạng thái đoạn diệt, nhằm thoát khỏi mọi đau khổ của luân hồi ở kiếp sau và vào thế giới cực lạc ở Tây Phương Thiên Đàng, nơi không có thiện, ác, đúng sai. Về thái độ đối với cuộc sống, có thể chấp nhận chủ trương của nhà tư tưởng Nho giáo hiện đại Lương Sấu Minh cho rằng thái độ của một vị Thánh nhân Trung Quốc nằm giữa hai thái độ cực đoan của nhà tiên tri Do Thái và của Đức Phật Ấn Độ. Các nhà tiên tri Do Thái yêu cầu con người phải phân biệt rõ ràng thiện và ác, và do đó nỗ lực không ngừng nâng cao sự sống lên cõi của dân tộc vĩnh cửu được Thượng Đế lựa chọn. Đức Phật Ấn Độ yêu cầu con người phải loại bỏ tất cả những dục vọng xấu ác nguyên thủy cấu thành đúng sai, thiện ác, và cố gắng liên tục nhằm đạt đến cảnh giới đoạn diệt vĩnh viễn con người phàm trần. Các nhà hiền triết Trung Quốc có thái độ ôn hòa, yêu cầu mọi người “không trách ở người khác” và “tìm mọi thứ ở chính mình”, tức là họ ít hỏi về thiện ác của người khác, chỉ phân biệt thiện ác của mình, và thực hành khắc kỷ, lễ nhượng, hiếu đễ, trung thành và tha thứ. Con người có thể đạt được trạng thái lý tưởng là một vị thánh bên trong và một vị vua bên ngoài.
So sánh trên cho thấy chủ trương của nhà tiên tri Do Thái và Đức Phật Ấn Độ là bản chất con người vốn là ác, trong khi chỉ có chủ trương của bậc Thánh nhân Trung Quốc là bản chất con người vốn là thiện. Tóm lại, niềm tin vào Thượng Đế của các nhà tiên tri Do Thái là thực tế và khả thi, trong khi trạng thái Niết bàn của Đức Phật Ấn Độ và trạng thái lý tưởng của vị thánh bên trong và vua bên ngoài của các vị Thánh nhân Trung Quốc đều không thực tế. Nói cách khác, dù có “khả thi” thì cũng là sai làm, và đó chỉ là sự lừa dối con người hoặc sự tự lừa dối chính mình. Sự “lừa dối” của Đức Phật là muốn con người phản đối cuộc sống của chính mình, bởi vì yêu cầu con người từ bỏ cái ác và dục vọng vốn có của mình thực chất là từ bỏ cuộc sống vốn có của mình, và điều này dù sao cũng là vô lý. Sự “lừa dối” của các vị Thánh nhân Trung Quốc là chủ trương của họ rằng bản chất con người vốn là thiện không phù hợp với thực tế bản chất con người, cái ác và dục vọng nguyên thủy của con người luôn tồn tại cùng nhau, vì vậy tìm kiếm cái thiện bên trong bản thân mình là chưa đủ.
Qua phân tích trên, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng Phật giáo có thể có sự trừu tượng vĩnh cửu, nhưng không có sự trừu tượng tối cao. Điều đáng buồn nhất là sự trừu tượng của Phật giáo về đời sống con người không đề cao và thăng hoa mà trái lại, trấn áp và làm cho nó im lặng. Một số người có thể hỏi, nếu đúng như vậy thì tại sao Phật giáo lại có tín đồ khắp Đông và Đông Nam Á hơn 2.000 năm và vẫn còn rất phổ biến cho đến ngày nay? Tôi nghĩ nguyên nhân chính nằm ở ba khía cạnh. Một là con người phương Đông từ lâu đã sống trong cảnh khốn cùng, ít hy vọng. Kiểu khốn khổ này rất phù hợp với “biển khổ vô biên” mà Đức Phật đã tiên đoán; thứ hai là lòng nhân ái mà Đức Phật thuyết giảng, tinh thần bình đẳng cho tất cả mọi người rất phù hợp với nguyện vọng của những người dân đau khổ ở phương Đông. Thứ ba, đó là chủ trương của Phật giáo là không chống lại cái ác, ngay cả với những kẻ làm ác, bàn tay dính máu người có thể thành Phật miễn là họ đặt con dao đồ tể xuống. Ví dụ, vị vua Phật giáo nổi tiếng Ashoka trong lịch sử Ấn Độ từng là một kẻ hung ác như vậy, để độc chiếm quyền lực, ông đã ám sát anh trai mình, gây chiến và tàn sát hàng trăm ngàn người dân vô tội, nhưng cuối cùng lại trở thành một tín đồ sùng đạo. Nếu một người như vậy tuân theo các điều răn của đạo Do Thái, người đó sẽ không bao giờ được Thượng Đế tha thứ. Chính vì lý do này mà các nhà cai trị phương Đông sẵn sàng ủng hộ Phật giáo. Tuy nhiên, bằng cách này, tinh thần tín ngưỡng tôn giáo của Phật giáo cũng bị mất giá trị rất nhiều. Đạo Phật chỉ làm điều thiện chứ không trấn áp cái ác. So với Nho giáo “ít trách ở người khác” mà “tự cầu ở mình” thì có phần tiêu cực hơn. Nho giáo “ít trách” không có nghĩa là không trách, và “tự cầu ở mình” không có nghĩa là không cầu ở người. Có thể thấy rằng Phật giáo không có khả năng chống lại cái ác nhiều hơn Nho giáo. Điều này hình thành nên sự phân cực rõ ràng giữa sự phản kháng tuyệt đối của Do Thái giáo đối với cái ác và sự không phản kháng của Phật giáo đối với cái ác. Lập trường của các tôn giáo lớn trong thứ tự chống lại cái ác đại khái như sau:
Do Thái giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo.
Theo thứ tự trên, Đạo giáo vẫn đi trước Nho giáo vì Đạo giáo vẫn còn nhiều yếu tố chống đối kẻ thống trị, chẳng hạn như phơi bày lòng nhân nghĩa, đạo đức của người cai trị, đồng thời đề cao chủ nghĩa quân bình: “Trời đất không có lòng nhân, coi vạn vật như chó rơm”, “Thánh nhân không có lòng nhân, coi bách tính như chó rơm”, “Dân không sợ chết, làm sao đem cái chết ra doạ họ được?”, “Dân đói là do kẻ trên tích luỹ nhiều cái ăn”, “Người chồng nhã nhặn, lòng trung mỏng manh, dẫn đến hỗn loạn”, “Khi con đường lớn bị bỏ đi, lòng nhân nghĩa mới được bộc lộ. Khi trí tuệ xuất hiện, đạo đức giả và xảo quyệt sẽ nảy sinh. Khi cha con, anh em, vợ chồng mâu thuẫn thì mới thấy lòng hiếu thảo, khi đất nước loạn lạc thì các trung thần mới xuất hiện”, “Ăn cho là ngon, mặc cho là đẹp, ở cho là yên, sống cho là sướng…vân vân. Mặc dù Đạo giáo rao giảng rõ ràng “trọng sự mềm mại” và “không tranh đấu”, nhưng trên thực tế, trong lịch sử Trung Quốc, các cuộc bạo loạn của nông dân chủ yếu sử dụng tư tưởng Đạo giáo làm vũ khí. Ngay cả sự trỗi dậy ban đầu của Đạo giáo cũng được sử dụng là công cụ để tổ chức các cuộc bạo loạn của nông dân. Một học giả người Anh (J.M. Kennedy), người bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của Nietzsche, đã định nghĩa tôn giáo trong cuốn sách “Tôn giáo và triết học phương Đông” của ông là “thứ cố gắng kết nối con người với quyền lực tối cao”. Định nghĩa này về cơ bản phù hợp với Do Thái giáo và các hậu duệ của nó là Hồi giáo và Cơ đốc giáo. Bởi vì chỉ có tôn giáo chỉ có một Thượng Đế mới có thể mang ý nghĩa “tối cao”. Định nghĩa này không phù hợp lắm với các tôn giáo ở phương Đông. Định nghĩa của tôi về tinh thần tín ngưỡng thực sự trong bài viết này cũng bao gồm thuật ngữ “uy quyền tối cao”. Điều này tương đương với việc tôi tin rằng các tôn giáo ở phương Đông (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo) không hoàn toàn phù hợp với tinh thần tín ngưỡng thực sự. Vì không ai trong ba tôn giáo này sở hữu “quyền tối cao”, nó không thể góp phần vào việc theo đuổi “chân lý” vô hạn của nhân loại, và nó không thể cung cấp cho các tín đồ bất kỳ sức mạnh tinh thần tối cao nào bên trong để chống lại quyền lực thế tục. Lý do sâu sắc nhất khiến người phương Đông không nói sự thật, hay thậm chí không nói lý lẽ, chính là ở đây. Chiếu theo ý nghĩa là không có lợi cho việc theo đuổi chân lý, niềm tin do ba trường phái Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo cung cấp chỉ có thể là “niềm tin giả”.
Đọc tiếp chương 13: Tại sao người Trung Quốc thiếu tinh thần tìm kiếm tri thức thực sự?