Câu hỏi này đã được nêu ra ít nhất hai lần trước đây nhưng chưa được trả lời. Ngược lại, một khi người Do Thái mất quê hương, họ sẽ mất nó mãi trong một thời gian vô cùng dài của lịch sử.
Có những thứ có thể khơi dậy trí tưởng tượng của chúng ta: người Ai Cập cổ đại đã xây dựng những kim tự tháp ngày càng lớn hơn trên sa mạc; còn người Trung Quốc vào thời cổ đại cũng đã xây dựng một đế chế toàn trị ngày càng lớn, một kim tự tháp quyền lực trên những người Trung Quốc sống rải rác. Và điều đáng kinh ngạc là mỗi lần người Trung Quốc bị chinh phục trong lịch sử, tổ quốc của họ lại trải qua một sự mở rộng thực sự về địa lý và dân số. Hiện tượng này bắt đầu khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và kết thúc khi nhà Mãn Châu thống nhất Trung Quốc.
Bản chất dân tộc rải rác của người Trung Quốc, sự thờ ơ của họ đối với sự thay đổi chế độ và sự háo hức thoát khỏi tình trạng hỗn loạn của binh lính và kẻ cướp đã giới hạn cuộc đấu tranh giành quyền lực chỉ xảy ra ở giữa một số nhóm chính trị và quân sự. Điều này đã khơi dậy rất nhiều sự thèm muốn của những người theo đuổi sự nghiệp quân sự. Mô hình đế quốc thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng đã khiến rất nhiều người theo đuổi sự nghiệp lấy ngai vàng của hoàng đế toàn Trung Quốc làm mục tiêu của mình. Đặc tính dân tộc bị chia cắt cũng khiến các lực lượng ly khai địa phương khó tồn tại. Bởi vì quyền lực gần như là lực gắn kết xã hội quan trọng duy nhất trong xã hội Trung Quốc trong hơn 2.000 năm, và sự phân cấp tuyệt đối của nền kinh tế tự nhiên của sản xuất nông dân quy mô nhỏ đã khiến Trung Quốc về cơ bản thiếu sức mạnh tổ chức xã hội bao gồm tiền tệ và lưu thông hàng hóa, và tình trạng mù chữ gần như phổ biến trong toàn xã hội cũng chính là điều gây khó khăn cho việc chuyển giao tri thức trở thành một lực lượng tổ chức xã hội hiệu quả. Do đó, chủ nghĩa toàn trị nhỏ khó có thể cạnh tranh với chủ nghĩa toàn trị lớn ở Trung Quốc một cách tương đối lâu dài. Tuy nhiên, tại sao người Hán ở Trung Nguyên, vốn có di sản văn hóa cổ điển phong phú, lại nhiều lần trở thành thần dân của các hoàng đế thiểu số? Trọng tâm của vấn đề nằm ở sức mạnh tổ chức xã hội nêu trên. Loại quyền lực hay sự gắn kết của tổ chức xã hội này không hề chỉ là vấn đề đơn phương của những người nắm giữ quyền lực mà còn phải là vấn đề của tất cả các thành viên trong xã hội, đặc biệt là những thành viên bình thường. Xã hội chính thức thời trung cổ của Trung Quốc hầu như chỉ sử dụng quyền lực như một phương tiện duy nhất để gắn kết xã hội, và phương pháp này chỉ sử dụng sự áp bức và răn đe. Tình trạng này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân tán nghiêm trọng bản sắc dân tộc Trung Quốc. Mặc dù việc tích lũy văn hóa cổ điển của các dân tộc thiểu số thua xa so với người Hán, nhưng thực tế đây không những không phải là điều xấu đối với họ mà còn là một điều rất tốt, vì nó giúp họ duy trì được những yếu tố tự nhiên phản cảm hơn của văn hóa dân tộc thiểu số, đó là cái ác trong bản chất con người. Như chúng ta đã thảo luận trước đây, vai trò của toàn bộ tư tưởng Trung Quốc với Nho giáo là cốt lõi và Phật giáo, Đạo giáo là bổ sung là phát huy đặc tính nhân cách cam chịu và chối bỏ của người Trung Quốc. Các dân tộc thiểu số không bị lối suy nghĩ này làm tha hóa và vẫn giữ được bản chất hung hãn, xấu xa vốn có của họ, tài năng và tính hiếu chiến của họ vốn đã khác với người Hán uể oải ở đồng bằng. Điều quan trọng hơn là hầu hết các dân tộc thiểu số đều sống du mục và săn bắn, và thể chất khỏe mạnh của họ không chỉ là thứ yếu, mà sự tổ chức giữa các cá nhân mà họ trải qua trong quá trình di cư tập thể của gia súc và cừu nhiều lần trong năm cũng vô cùng quan trọng. Tổ chức hay sự gắn kết giữa các cá nhân mà họ chia sẻ từ trên xuống dưới cao gấp vô số lần so với người Hán vốn chỉ là những tiểu nông dưới áp lực quyền lực cao. Trong thế trận giao tranh hết sức căng thẳng giữa hai đội quân, các chiến binh của dân tộc thiểu số nghĩ nhiều hơn đến việc giành chiến thắng và cướp tài sản, phụ nữ của kẻ thù. Còn trong lòng những người tiểu nông vốn là chiến sĩ nhà Hán càng suy nghĩ nhiều hơn về việc liệu có thể nhân cơ hội chạy trốn, chạy thật xa để phấn đấu thực hiện lý tưởng sống “ba mươi sào đất, một con bò, vợ và con”. Với trạng thái tinh thần trái ngược và kỹ năng tổ chức giữa các cá nhân như vậy, làm sao người Hán ở Trung Quốc không bị đánh bại bởi gót chân sắt của các dân tộc thiểu số?
Có quá nhiều câu chuyện trong lịch sử về việc này. Vào thời Nam Tống, vị tướng yêu nước Nhạc Phi, người đã giành thắng lợi trong cuộc chiến chống lại quân Kim, đã bị hoàng đế phản bội Tống Cao Tông và đồng phạm là Tần Cối điều khiển. Ông ta không những không nhận được phần thưởng mà còn bị giết chết với tội danh “vô căn cứ” là vì có “quyền lực lay chuyển vua”. Nạn nhân còn có con trai của ông là Nhạc Vân và tướng quân Trương Hiến, Hơn nữa, người thân của họ cũng bị liên lụy và bị đày đến Lĩnh Nam. Làm sao một triều đình như vậy có thể tồn tại được?
Năm 1644, Phúc Vương Chu Do Tung của nhà Nam Minh, tự xưng là hoàng đế ở Nam Kinh. Chế độ này không coi quân Thanh là mối đe dọa mà thay vào đó lấy việc “tiêu diệt kẻ cắp và trả thù” làm tôn chỉ (điều này rất giống với chủ trương của Tưởng Giới Thạch “Muốn chống lại ngoại bang, trước tiên phải giải quyết nội tình”). Có 200.000 đến 300.000 quân của Tả Lương Ngọc đóng ở Vũ Hán, ngoài ra bốn trấn ở Giang Bắc còn có Lưu Trạch Thanh, Lưu Lương Tá, Cao Kiệt và Hoàng Đắc Công có không dưới 200.000 đến 300.000 người, nhưng họ được sử dụng đặc biệt để chống lại quân đội nông dân khởi nghĩa. Họ không những không cử một người lính nào đi chống lại nhà Thanh, mà lại cử Tả Mậu Đệ, Mã Thiệu Du và Trần Hồng Phạm đến Bắc Kinh để nghị hoà và bàn việc “hợp quân tấn công hỏi tội Tần Trung, cùng nhau đánh bại thủ lĩnh của phe phản loạn”. Đốc sư Giang Bắc Sử Khả Pháp bị Mã Sĩ Anh khống chế ở trong triều. Các tướng lĩnh của bốn trấn cũng tranh giành lãnh thổ, thậm chí còn đánh nhau. Tả Lương Ngọc ở Vũ Xương còn dấy binh tấn công Mã Sĩ Anh dưới danh nghĩa đánh “giặc nhà Thanh”. Mã Sĩ Anh và Nguyễn Đại Thành huy động quân của Hoàng Đức Công và Lưu Lương Tả giao chiến với quân của Tả Lương Ngọc. Lưu Trạch Thanh cũng cũng mượn danh cần vương dẫn quân về Nam Kinh. Đối mặt với quân Thanh ở tiền tuyến mà cửa Giang Hoài đã mở rộng. Triều đình của Phúc Vương đã rơi vào tình trạng tan rã chưa đợi quân Thanh đến. Làm sao một triều đình như vậy có thể tồn tại được?
Với triều đình như vậy, tướng lĩnh như vậy, binh lính như vậy, dân Hán ở Trung Nguyên làm sao không liên tiếp bị đánh bại, đầu hàng trước sự tàn phá của các dân tộc thiểu số hùng mạnh ở biên cương! Điều chưa được thảo luận cụ thể ở đây là trong mọi cuộc xâm lược của ngoại bang, các tướng phản bội và quân phản bội thực sự đóng một vai trò lớn hơn. Đúng là “nỗi hận mất nước ở đâu cũng có, nhưng con số ở Trung Quốc còn lớn hơn”.
Điều kỳ lạ là người Trung Quốc càng mất nước thì đất nước lại càng lớn, dân lại càng đông. Liệu điều kỳ lạ mang tính lịch sử này có thể được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới không? Tôi sợ là không, tại sao vậy?
Người Trung Quốc rất tự hào về sức mạnh văn hóa to lớn của đất nước họ. Khi một dân tộc đã xâm nhập vào người Hán, cuối cùng họ trở thành người Hán và bị lạc chìm trong đó; ngay cả người Do Thái, những người ít có khả năng bị đồng hóa nhất, cũng không thể tránh khỏi số phận này. Điều khiến người dân Trung Quốc tự hào hơn nữa là người Trung Quốc sẽ không bao giờ ép buộc người dân phải cải đạo, như một số nước hiện nay, nếu không sẽ trục xuất họ. Ngược lại, mọi thay đổi đều diễn ra một cách tự nhiên và vô thức. Hơn nữa, những nhà cai trị nước ngoài thống trị Trung Quốc, chẳng hạn như người Mông Cổ và người Semu vào thời nhà Nguyên, và người Mãn Châu vào thời nhà Thanh, hoàn toàn không có khả năng buộc phải cải đạo. Các nhà cai trị nước ngoài đã học và áp dụng văn hóa Hán một cách hoàn toàn tự nguyện và thậm chí tích cực. Tại sao các nhà cai trị nước ngoài lại chủ động làm điều này? Bí mật không nằm ở sự vĩ đại của nền văn hóa Trung Quốc như một số người khoe khoang, mà nằm ở sức mạnh và lợi ích của thế giới này. Đối với một dân tộc thiểu số như Mãn Châu, với tối đa không quá vài triệu người, có thể thống trị hàng trăm triệu người Hán và trở thành người cai trị họ, đó là một vinh dự và họ có niềm hy vọng lâu dài biết bao. . Tuy nhiên, làm sao có thể cai trị thành công người Hán nếu không hiểu ngôn ngữ, chữ viết, văn học cổ điển, lịch sử, triết học, đạo đức, v.v. của họ? Lợi ích quyền lực đã cám dỗ họ hòa nhập vào văn hóa Hán. Quan trọng hơn, với tư cách là những nhà cai trị toàn trị mới, họ sẽ không bao giờ thấy rõ rằng văn hóa Nho giáo có vai trò không thể thay thế trong việc điều chỉnh lối sống của người dân Trung Quốc và giúp họ dễ dàng bị cai trị. Chỉ cần hy vọng con cháu luôn duy trì được địa vị toàn trị mà mình đang chiếm giữ, họ phải thúc giục con cháu nghiêm túc nghiên cứu văn hóa cổ điển Hán, đặc biệt là kinh điển Nho giáo. Điều này đúng với những người dân tộc thiểu số có tư cách cai trị, và càng đúng hơn với những người dân bình thường chưa trở thành người cai trị và mong muốn hòa nhập với người Hán để mưu sinh trong biển người Hán. . Vào cuối thời nhà Minh, Gu Yanwu từng nói: “Có rất nhiều gia tộc Sơn Đông hiện đại là hậu duệ của triều đại Tấn và nhà Nguyên” và “hầu hết người Semu Mông Cổ đã đổi họ sang họ Hán, không khác gì người Trung Quốc”① .
Người Trung Quốc rất tự hào về sức mạnh văn hóa to lớn của đất nước họ. Khi một dân tộc đã xâm nhập vào người Hán, cuối cùng họ trở thành người Hán và bị lạc chìm trong đó; ngay cả người Do Thái, những người ít có khả năng bị đồng hóa nhất, cũng không thể tránh khỏi số phận này. Điều khiến người dân Trung Quốc tự hào hơn nữa là người Trung Quốc sẽ không bao giờ ép buộc người dân phải cải đạo, như một số nước hiện nay, nếu không sẽ trục xuất họ. Ngược lại, mọi thay đổi đều diễn ra một cách tự nhiên và vô thức. Hơn nữa, những nhà cai trị ngoại bang thống trị Trung Quốc, chẳng hạn như người Mông Cổ và người Semu (ND: Thời nhà Nguyên, Semu – Sắc Mục được sử dụng để chỉ người nước ngoài đến từ Châu Âu, Tây Á và Trung Á, chủ yếu đề cập đến người Thổ Nhĩ Kỳ, người Iran và người Ả Rập, và được đặt tên này vì màu da và màu mắt khác biệt của họ) vào thời nhà Nguyên, và người Mãn Châu vào thời nhà Thanh, hoàn toàn không buộc phải cải đạo. Các nhà cai trị ngoại bang đã học và áp dụng văn hóa người Hán một cách hoàn toàn tự nguyện và thậm chí tích cực. Tại sao các nhà cai trị ngoại bang lại chủ động làm điều này? Bí mật không nằm ở sự vĩ đại của nền văn hóa Trung Quốc như một số người khoe khoang, mà nằm ở sức mạnh và lợi ích thế tục của nó. Đối với một dân tộc thiểu số như Mãn Châu, với tối đa không quá vài triệu người, có thể thống trị hàng trăm triệu người Hán là một vinh dự và niềm hy vọng lâu đời. Tuy nhiên, làm sao có thể cai trị thành công người Hán nếu không hiểu ngôn ngữ, chữ viết, văn học cổ điển, lịch sử, triết học, đạo đức, v.v. của họ? Lợi ích quyền lực đã cám dỗ họ hòa nhập vào văn hóa Hán. Quan trọng hơn, với tư cách là những nhà cai trị toàn trị mới, họ sẽ thấy rõ rằng văn hóa Nho giáo có vai trò không thể thay thế trong việc điều chỉnh lối sống của người dân Trung Quốc và giúp họ dễ dàng bị cai trị. Chỉ cần hy vọng con cháu luôn duy trì được địa vị toàn trị mà mình đang chiếm giữ, họ phải thúc giục con cháu nghiêm túc nghiên cứu văn hóa cổ điển của người Hán, đặc biệt là kinh điển Nho giáo. Điều này đúng đối với người cai trị từ các dân tộc thiểu số. Và còn đặc biệt đúng đối với những người bình thường không thể trở thành người cai trị và mong muốn hòa hợp với người Hán để kiếm sống trong biển người Hán. Vào cuối thời nhà Minh, Cố Viêm Vũ từng nói: “Có rất nhiều gia tộc Sơn Đông hiện đại là hậu duệ của triều đại nhà Kim và nhà Nguyên” và “hầu hết người Mông Cổ và người Semu đã đổi họ sang họ người Hán, không khác gì người Trung Quốc”.
Một số người sẽ nói rằng văn hóa Trung Quốc đồng hóa các chủng tộc nước ngoài vì văn hóa Trung Quốc tiến bộ hơn, và vĩ đại hơn văn hóa của họ. Nhưng kể từ Chiến tranh nha phiến năm 1840, người Trung Quốc đã gặp phải một đối thủ thực sự, đó là khi văn hóa phương Tây tràn vào Trung Quốc với một sức mạnh không thể ngăn cản. Họ đã làm thay đổi quan niệm, phương pháp và thế giới quan của người Trung Quốc. Hiện nay không phải văn hóa Trung Quốc muốn đồng hóa người khác mà là văn hóa phương Tây muốn đồng hóa người Trung Quốc. Cách nói này có phần gây bối rối, và nó cũng không hoàn toàn chính xác. Sự đồng hóa của văn hóa đối mà chúng ta đang thảo luận chắc chắn bao gồm sự biến đổi hoặc đồng hóa về khái niệm, phương pháp và thế giới quan. Nhưng sự biến đổi hay đồng hóa này chỉ là mức độ thứ cấp hơn. Sự đồng hóa đáng kể nhất phải đề cập đến là ngôn ngữ, văn tự, thậm chí sâu hơn nữa là huyết thống. Tất cả những người nước ngoài sống ở Trung Quốc đều bị đồng hóa, chưa kể những dân tộc có nguồn gốc từ chủng tộc da vàng, thậm chí cả người Ả Rập và người Do Thái có nguồn gốc từ chủng tộc da trắng, do kết hôn với người Hoa địa phương, đôi khi còn duy trì hôn nhân với những người cùng chủng tộc, nhưng vì họ bị bao vây bởi người Hán da vàng nên ngoại hình của họ dần dần giống với người Hán da vàng. Theo nghĩa này, sự đồng hóa các dân tộc thiểu số của người Hoa có thể nói là sự đồng hóa hoàn toàn. Trải qua nhiều thế hệ, con cháu của họ không còn dùng được tiếng mẹ đẻ nữa, cũng giống như nhiều hậu duệ người Hoa sống ở phương Tây ngày nay không còn dùng được tiếng Hán và chữ Hán. Bản thân cái gọi là dân tộc Hán là sự kết hợp tuyệt vời của nhiều dân tộc khác nhau trong lịch sử.
Việc một người hay một dân tộc thiểu số có bị một dân tộc khác đồng hóa hay không, trên thực tế có rất ít liên quan đến việc nền văn hóa đó có được gọi là tiến bộ và vĩ đại hay không. Sở dĩ văn hóa Trung Quốc có thể đồng hóa được người Nữ Chân, người Mông Cổ, người Semu là vì họ phải tồn tại trong đại dương văn hóa của người Hán, đặc biệt để duy trì sự thống trị của mình thì họ phải làm điều này. Thậm chí ngày nay, nếu một số người phương Tây muốn sống ở Trung Quốc, họ phải chủ động hòa nhập vào văn hóa Trung Quốc, học cách sử dụng tiếng Trung, chữ viết, phong tục Trung Quốc, v.v., mặc dù văn hóa phương Tây có vẻ tiến bộ hơn văn hóa Trung Quốc và khác biệt với văn hóa Trung Quốc. Giả sử một người Anh trở thành hoàng đế Trung Quốc, chúng ta phải xem cuối cùng ông ta dùng văn hóa Anh để đồng hóa người Trung Quốc hay người Trung Quốc dùng văn hóa Trung Quốc để đồng hóa con cháu của ông ta? Rõ ràng là vế sau sẽ đúng. Vì vậy, tôi tin rằng chúng ta không nên nghĩ rằng văn hóa Trung Quốc vĩ đại như vậy chỉ vì người Trung Quốc đã đồng hóa người Semu và người Mãn Châu. Cũng như không nên nghĩ rằng văn hóa phương Tây tiến bộ như vậy thì một ngày nào đó sẽ đồng hóa người Trung Quốc. Tôi chắc chắn rằng người Hoa sống ở Trung Quốc sẽ không bao giờ bị đồng hóa. Chủng tộc da vàng của người Trung Quốc không được đề cập ở đây, và điều đó cũng là không thể ngay cả với ngôn ngữ và chữ viết Trung Quốc.
Trước đó trong cuốn sách này, tác giả đã có một phần dành cho các ký tự Trung Quốc. Ở đó người ta chỉ ra rằng chữ Hán là phát minh vĩ đại thứ năm mà đất nước Trung Quốc dành tặng cho toàn thể nhân loại. Bốn phát minh vĩ đại của Trung Quốc: sản xuất giấy, la bàn, thuốc súng và máy in, từng đóng vai trò nền tảng vật chất quan trọng cho sự phát triển của văn hóa phương Tây trong thời hiện đại. Không quá lời khi nói rằng những phát minh công nghệ của Trung Quốc đã cung cấp những công cụ truyền tải cần thiết cho sự phát triển của khoa học hiện đại và tinh thần dân chủ của phương Tây, mặc dù nó cũng là nền móng cho quá trình tái sinh của nền văn hóa Trung Quốc sau những năm 1840. Khác với bốn phát minh vĩ đại trước đó, phát minh vĩ đại thứ năm của Trung Quốc là chữ Hán sẽ phục vụ toàn thể nhân loại trong thiên niên kỷ mới, tất nhiên là cả thế kỷ 21 này. Tôi tin vào điều này. Trước đó, chữ Hán đã có vô số đóng góp cho sự thống nhất và phát triển của dân tộc Trung Hoa. Ở một mức độ lớn hơn, thậm chí có thể nói rằng nếu không có chữ Hán thì sẽ không có một nước Trung Quốc thống nhất và rộng lớn.
Tính bất biến tương đối của chữ Hán đã cho phép Khổng Tử cách đây 2.500 năm có thể giao tiếp trực tiếp với con người ngày nay. Đặc điểm này của chữ Hán khiến người Trung Quốc có khả năng duy trì tính liên tục văn hóa cao nhất trên thế giới, tức là có khả năng duy trì truyền thống văn hóa cao nhất.
Đặc điểm âm chữ Hán thay đổi theo từng chữ và mỗi chữ có một âm là công cụ đắc lực để nhân loại xóa bỏ rào cản ngữ âm của tất cả các phương ngữ, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho giao tiếp giữa người dân trong một khu vực rộng lớn. Chính đặc điểm này đã góp phần vào sự thống nhất của dân tộc Trung Hoa trong một lãnh thổ rộng lớn.
Hai điểm trên về cơ bản phản ánh tính bất biến tương đối về không gian và thời gian của chữ Hán. Về mặt này, tất cả các ký tự bính âm không thể so sánh được với các ký tự Trung Quốc. Chẳng hạn, người Anh ngày nay nếu không phải là chuyên gia thì không thể hiểu được những bài thơ của Chaucer, nhà thơ nổi tiếng người Anh cách đây 600 năm.
Đặc điểm thứ ba của chữ Hán là trong cùng điều kiện thời gian và không gian, thông tin văn hóa của chữ Hán dày đặc hơn bất kỳ ký tự bính âm nào khác. Ví dụ, trong số các file có cùng nội dung, file ký tự tiếng Trung là mỏng nhất và mất thời gian đọc ngắn nhất. Với ý nghĩa này, có thể nói chữ Hán là vật chứa đựng những thông tin văn hóa của con người.
Đặc điểm thứ tư của chữ Hán là khả năng tạo từ mới mạnh hơn bất kỳ ký tự bính âm nào khác. Các ký tự bính âm là các dòng và chỉ khi tăng độ dài thì các từ mới mới có thể được cung cấp. Ký tự tiếng Trung là dạng tượng hình và khả năng thêm từ mới gấp bội so với ký tự ghép chữ cái.
Xét từ bốn đặc điểm trên của chữ Hán, chữ Hán sẽ trở thành công cụ trao đổi thông tin văn hóa trong tương lai tốt nhất cho toàn nhân loại. Nhưng trước đó, chữ Hán trước hết là công cụ khiến một nước Trung Hoa thống nhất ngày càng lớn mạnh.
Quay lại chủ đề của chương này: Vì sao tổ quốc của người Trung Quốc ngày càng lớn? Có thể tóm tắt đại khái như sau:
Đặc tính dân tộc bị phân tán dẫn đến sự thống nhất toàn trị; Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều đang hình thành tính cách phục tùng của người dân và củng cố sự thống nhất toàn trị; Quyền lực toàn trị thỉnh thoảng bị các nhóm thiểu số ngoại bang chiếm đoạt, sau đó dẫn đến sự gia tăng lãnh thổ và dân số; Các dân tộc thiểu số đang dần bị người Hán đồng hóa, công cụ quan trọng để đồng hóa là Nho giáo và tiếng Hán, chữ Hán dùng để diễn đạt tư tưởng; Những đặc điểm tuyệt vời của chữ Hán đã giúp mở rộng lãnh thổ và dân số Trung Quốc từ góc độ phổ biến thông tin văn hóa. Tất cả những điểm trên đều là nhân quả và củng cố lẫn nhau, chúng đã cùng nhau đưa tổ quốc của người Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới hiện nay.
Đọc tiếp chương 21: Tại sao lịch sử của người Trung Quốc đã lâu đời còn liên tục?