Giờ học lý thuyết của Mã Đức Bảo khiến lòng người rã rời, chỉ trong hai tuần đã có tới mười lăm người xin rút khỏi câu lạc bộ. Mã Đức Bảo ngoài miệng nói: “Văn học là tự nguyện, người ở lại đến cuối cùng mới là người có tiền đồ”, nhưng trong lòng vẫn sốt ruột, âm thầm phản ánh lên ban lãnh đạo nhà trường. Nhà trường kiên trì theo nguyên tắc tự nguyện, lại “anh hùng gặp anh hùng” với cao kiến của Mã Đức Bảo, cũng nói rằng người ở lại đến cuối cùng mới là người có tiền đồ. Nửa tuần nữa trôi qua, người không có tiền đồ ngày càng nhiều, mà ai nấy đều rút với lý do rất đầy đủ, có người tự viết giấy xin rút, ghi rằng:
Bản thân em vẫn còn giấc mộng làm nhà văn, nhưng gần đây được yết kiến thầy, kính nghe các buổi giảng, em cảm thấy mình cách văn học còn rất xa, không phải là người hợp với văn chương, nên chỉ nếm thử rồi dừng lại, bỏ dở giữa chừng, cũng là hành động tự biết mình. Nay em làm đơn xin rút khỏi câu lạc bộ.
Bức thư xin rút khỏi tổ này được viết nửa cổ nửa kim, Mã Đức Bảo ôm cuốn từ điển lật suốt nửa ngày mới hiểu ra là xin rút lui, tức đến mức xé toạc nó đi. Trong tay vẫn còn mấy bức thư nữa, ông hoảng hốt xem tiếp, thì bức tiếp theo đã thẳng thừng vào vấn đề, gọn gàng dứt khoát:
Kính chào thầy Mã, do em có một số việc nên muốn xin rời khỏi câu lạc bộ Văn học. Chúc câu lạc bộ Văn học ngày càng phát triển tốt đẹp!
Mã Đức Bảo rất tức giận, và lời chúc cuối cùng nghe như một lời mỉa mai trước khi xé nó đi. Bức thư thứ ba là sự hòa quyện giữa tài năng văn chương và cảnh vật:
Em chỉ là một thành viên bình thường của câu lạc bộ Văn học, nhưng gần đây ông ngoại em lâm bệnh nằm liệt giường, em phải thường xuyên đến chăm sóc. Hơn nữa em cũng đã là học sinh cuối cấp. Để hoàn thành ước mơ của mình, tô điểm cho tương lai một chút ánh sáng, em quyết định tạm thời rút khỏi câu lạc bộ Văn học để chuyên tâm học tập, thi đỗ vào một trường cấp ba tốt. Bài giảng của thầy Mã thật đặc sắc dồi dào, uyên bác và toàn diện, bao trùm cả Trung Quốc và phương Tây. Em vô cùng kính phục, nhưng vì thi cử, em đành phải cắt đứt “tình yêu” này.
Đây là lần đầu tiên Mã Đức Bảo được gọi là “tình yêu”, trong lòng thấy vui nên không xé thư. Đọc đi đọc lại hai lần, được vuốt ve đúng chỗ ngứa, ông vui vẻ nghĩ thầm “vẫn là loại học sinh như thế này mới biết cảm thông cho lòng người”.
Về phương diện giảng dạy chính thức, Mã Đức Bảo cuối cùng cũng đi vào quỹ đạo, bắt đầu làm theo khuôn phép. Dạy tốt môn Ngữ văn không hề dễ, nhưng dạy Ngữ văn lại có thể là điều đẹp nhất trong những điều đẹp, chỉ cần một mực bảo học sinh đọc văn bản “đọc sách một trăm lần, ý nghĩa tự hiện ra”. Lời dạy cổ xưa ấy ngày nay lại chẳng mấy tác dụng, đủ thấy người đọc sách thì ngày càng ngu đi, còn người viết sách thì ngày càng thông minh hơn. Chủ đề bài viết của tác giả trong sách Ngữ văn giống như tình yêu của những đôi nam nữ kín kẽ, lờ mờ cảm thấy dường như có chút gì đó, nhưng lại giấu rất sâu, không chịu lộ ra. Học sinh muốn dò cho ra chủ đề thì vất vả như khai quật cổ vật. Trước hết phải gạt bỏ lớp bùn dày, rồi phủi đi từng tầng bụi, cổ vật vừa được đào lên còn phải bảo vệ cẩn thận, gặp món to hơn nữa còn phải trát vá tu sửa, mệt mỏi vô cùng.
Mã Đức Bảo thì trực tiếp hơn nhiều, không thảo luận hay đặt câu hỏi mà chỉ truyền đạt kết quả khảo cổ của các giáo viên khác trong nhiều năm cho học trò của mình ngay từ đầu. Học sinh chỉ có nhiệm vụ chép, chép những gì trên bảng vào vở, chép những gì trong vở vào bài thi. Sau nhiều lần làm bài, kết quả đạt loại xuất sắc và rất ít sai sót. Điều duy nhất còn khiến Mã Đức Bảo không vừa ý là câu lạc bộ Văn học.
Ngày hôm đó, ông tình cờ phát hiện một bài viết trên “Diễn đàn dạy học” nói rằng muốn kích thích hứng thú của học sinh thì phải để học sinh tham gia. Ông thầm nghĩ đây là thứ tà thuyết gì vậy, để học sinh tham gia chẳng phải là quét sạch uy phong của thầy giáo, làm giảm uy tín của thầy hay sao? Trong lòng thầm mắng là nói nhảm, nhưng lại tò mò muốn xem thử người “phóng ra” luận điểm ấy là ai. Vừa nhìn liền giật mình, phía sau tên người đó có cả một chuỗi dài lời giới thiệu, riêng danh hiệu chuyên gia đã có hai cái, lại còn là nhà giáo dục lão luyện, lập tức sinh lòng kính nể, liền đọc kỹ từng chữ, cảm thấy tuy lời nói không phải hoàn toàn đúng, nhưng cũng có chỗ đáng lấy, bèn quyết định thử một phen.
Trong buổi sinh hoạt lần thứ ba, Mã Đức Bảo phá lệ, không giảng bài “Sau khi chọn cái đẹp”. Ông để các thành viên tự do phát huy, viết một bài tản văn về sự trôi chảy của thời gian. Thu bài xong, ông cho học sinh đọc sách linh tinh, còn mình thì lánh đi chấm bài. Mã Đức Bảo cực kỳ khắt khe về tu từ và cấu trúc câu khi đánh giá các bài văn, bất cứ bài nào ông không thể đọc trôi chảy đều bị coi là kém chất lượng. Đối với các bài tập làm văn, phần lớn ông đều không hài lòng, chê rằng bài nào cũng rơi vào lối mòn. Đến khi thấy phần mở đầu của La Thiên Thành, chỉ trong hai thành ngữ đã liên quan tới ba con vật “Bạch mã đi ngang qua, chim bay thỏ chạy”. Sau khi tra từ điển liền tấm tắc khen ngợi, gọi La Thiên Thành lại để trực tiếp chỉ dẫn. Lâm Vũ Tường vẻ mặt buồn bã, khi La Thiên Thành trở lại, liền hỏi: “Thầy ấy kêu cậu làm gì?”
La Thiên Thành bất mãn nói: “Thầy giáo này đúng là chẳng có chút trình độ nào, tôi nhìn thấu rồi.”
Mã Đức Bảo chấm xong các bài văn, nói: “Tôi có một tin muốn thông báo với mọi người. Nhà trường vì muốn khơi dậy cảm hứng sáng tác của các em, đồng thời chào đón cuộc thi làm văn toàn thành phố, nên đã tổ chức cho các em một chuyến đi dã ngoại. Địa điểm cụ thể có hai nơi để lựa chọn, một là …”, lời nói của Mã Đức Bảo đột nhiên dừng lại, ông ta ngơ ngác nhìn chằm chằm chữ “…” trên danh sách. Ông ta hối hận vì không tra từ điển trước nên đành phải tự mình đưa ra quyết định. Nơi có nước đã bị xóa sổ, chỉ giữ lại phương án còn lại là Chu Trang. Tạ ơn trời đất, may mà hai chữ này ông đều nhận ra, nếu không thì học sinh chẳng còn chỗ nào để đi nữa. Thái độ của ban lãnh đạo nhà trường cũng giống hệt Mã Đức Bảo, đều ngấm ngầm lo lắng. Chuyến đi dã ngoại mùa thu này đã được tổ chức trong tâm trạng ấy, ngay cả Mã Đức Bảo cũng chỉ vừa mới được thông báo.
Khi các thành viên nghe thấy điều này, tất cả đều vui mừng, và những người ban đầu muốn nộp đơn ra khỏi câu lạc bộ sau buổi học này đã quyết định hoãn lại một tuần.
Chuyến đi đến Chu Trang được ấn định vào Chủ nhật, thời gian lại eo hẹp nên các thành viên vừa rời câu lạc bộ đều hối hận và lần lượt trở thành những con ngựa xấu, cố gắng quay trở lại. Đáng tiếc, những chuyện như ngựa xấu quay lại ăn cỏ cũng giống như tình yêu thiêng liêng, phải dựa vào ý chí của hai bên. Ngựa xấu muốn ăn cỏ, nhưng có lẽ cỏ lại không sẵn lòng. Mã Đức Bảo tỏ ra không thương xót những người đã thay đổi ý định, nhân cơ hội này bày tỏ sự tức giận và nói rằng có thể vào nhưng không được phép đến Chu Trang. Những người đó rất ngạc nhiên vì suy nghĩ của họ đã bị nhìn thấu, xấu hổ nhưng có trốn cũng không kịp.
Khi học sinh đến một độ tuổi nhất định, các em sẽ nhận ra giá trị của đồng tiền. Trước đây, khi đi du lịch ở trường tiểu học, luôn phải mang theo nhiều đồ và một ít tiền. Giờ đây học sinh đã hiểu rằng tình hình chính trị Trung Quốc ổn định và không cần phải đổi Nhân dân tệ lấy hàng hóa để bảo toàn giá trị của nó, nên tất cả họ đều mang theo một ít đồ và rất nhiều tiền. Lâm Vũ Tường xin ba trăm tệ, nghĩ rằng như vậy sẽ đủ để chi tiêu ở Chu Trang, và nếu may còn có thể xót lại một ít. Việc tiếc tiền của cha Lâm đã biến thành sự căm ghét việc đi lại. Kết quả là ngành du lịch đã đi theo bước chân của ngành xuất bản và bị cha Lâm coi là “ham thích của những kẻ lang thang” và “sự lựa chọn của những kẻ buồn chán”. Dù đã đưa tiền nhưng cha Lâm rất không hài lòng với trường. Ông cho rằng lớp cuối cấp mà còn đi chơi cả ngày như vậy thì lẽ trời ở đâu?
Sáng chủ nhật, một chiếc xe khách nhỏ đậu trước cổng trường. Mặc dù vẫn chưa xác định được lẽ trời đang ở đâu, nhưng thời tiết dường như được điều khiển bởi Mã Đức Bảo. Bầu trời trong xanh không một gợn mây, tốt đến mức có thể khiến các nhà thiên văn học phải chảy nước miếng. Lâm Vũ Tường không thích thiên văn học, vì vậy cậu ta không có nghĩa vụ phải chảy nước miếng. Chỉ khi nhìn thấy chiếc xe khách, bụng cậu ta bắt đầu co thắt, đó là lúc cậu nhận ra mình chưa ăn sáng. Cậu không có sức ăn và hàm răng sắc nhọn để “nuốt chửng một đất nước trong một hơi thở” như Hitler, nên không dám lên xe một cách vội vàng, đành phải mời La Thiên Thành đi ăn sáng.
La Thiên Thành không hề ngước mắt, bẻ một nửa chiếc bánh mì đưa cho Lâm Vũ Tường. Lâm Vũ Tường cảm thấy nhân vật La Thiên Thành có giá trị nghiên cứu nên hỏi: “Này Thiên Thành, hình như cậu thích giả vờ thâm trầm thì phải.”
La Thiên Thành hạ giọng nói rằng sự thâm trầm thì không thể giả vờ được.
“Vậy cậu đã tới Chu Trang chưa?”
“Đi thì sao, chưa đi thì sao?”
“Chỉ hỏi thôi. Ở Chu Trang hình như có một… đại quý nhân nào đó, sau này bỏ tiền xây… xây Trường Thành, rồi bị hoàng đế giết. Người này đúng là đầu óc có vấn đề, để lại một đống tiền lớn, đến tiêu cũng chưa kịp tiêu đã…”
La Thiên Thành thở dài: “Tiền bạc có ý nghĩa gì? Người chết đi, danh lợi, ưu sầu, vui sướng, yêu hận, đều chỉ là một hạt bụi trên quan tài, có đáng cả đời vất vả chỉ vì một hạt bụi không?” Giọng điệu của cậu ta nghe như thể cậu ta đã chết mấy lần rồi.
Lâm Vũ Tường chưa chết đi sống lại như La Thiên Thành nên không có cơ hội bò ra ngoài quan tài để nhìn hạt bụi, cậu ta nói: “Hiện tại vui sướng là được rồi.”
La Thiên Thành phân tích bản chất con người: “Làm người thì cần tầm thường hoặc thanh cao, nửa tầm thường nửa thanh cao là người đau khổ nhất. Từ Chí Ma thanh cao, còn Mã Đức Bảo thì tầm thường. Nhưng bọn họ đều là người vui vẻ, còn cậu thì nửa tầm thường nửa thanh cao nên bên trong chắc hẳn sẽ rất đau khổ.”
Lâm Vũ Tường sắp xếp lại cảm xúc bên trong của mình và không cảm thấy đau khổ. Nói Mã Đức Bảo là người vui vẻ cũng là điều dễ hiểu, ngoài việc Từ Chí Ma chết một cách không được thanh cao cho lắm với một lỗ lớn trên đầu trong một vụ tai nạn máy bay, thì không có gì phản đối sự thanh cao của ông ta. Nhưng Lâm Vũ Tường không có chứng cớ La Thiên Thành không tầm thường hay không thanh cao, liền hỏi: “Còn cậu?”
La Thiên Thành bị chính vấn đề mình đề cập đến làm cho nghẹn ngào. Nhìn khung cảnh ngoài cửa sổ không nói nên lời, từ thanh cao trở nên ngơ ngác.
Lâm Vũ Tường vẫn kiên trì hỏi cho đến khi nhận được câu trả lời của La Thiên Thành: “Cậu thì sao?”
Thiên Thành tránh không được, trịnh trọng nói: “Tôi cái gì cũng chẳng phải.”
“Vậy cậu là gì?”
“Tôi đã nhìn thấu điều này.”
Lâm Vũ Tường trong lòng cười lớn, cho rằng người đàn ông này đang giả vờ, nhưng sắc mặt cũng nghiêm túc theo hắn, hỏi: “Cậu bao nhiêu tuổi?”
“Tôi lớn hơn cậu. Dù cậu có tin hay không thì tôi vẫn học cao hơn một lớp.”
Lâm Vũ Tường thầm kinh ngạc, nghĩ rằng chẳng trách nào người này không thanh cao cũng không tầm thường, ngược lại là ngu ngốc.
“Tôi bị viêm gan và phải nhập viện nên đã nghỉ học một học kỳ.”
Lâm Vũ Tường đột nhiên ngừng cười trong lòng, nghĩ rằng mình vừa ăn một miếng bánh mì của cậu ta thì nhất định sẽ chết, cậu không thể không di chuyển cơ thể ra ngoài.
La Thiên Thành bình tĩnh nói: “Sợ hãi sao? Mọi người đều như vậy, nếu sợ hãi thì ngồi phía sau, sẽ an toàn hơn.”
Những suy nghĩ nội tâm và kế hoạch hành động của Lâm Vũ Tường đã bị La Thiên Thành vạch trần, đương nhiên nếu làm theo lời cậu ta nói thì không tiện. Thay vì dùng sự an toàn của bản thân để chứng minh cậu ta đúng, Lâm Vũ Tường đã dùng nỗi đau của chính mình để chứng minh cậu ta sai. Vũ Tường nói: “Viêm gan thì có gì to tát đâu” để chứng minh cho thái độ không sợ hãi của mình, chỉ hận rằng không thể nói “Cho dù gan của cậu không còn, tôi cũng không sợ.” Nhưng sau đó cậu ta nghĩ lại, nếu La Thiên Thành bị mất lá gan thì cậu ta cũng không sợ bị nhiễm bệnh, nhưng ngược lại sẽ làm cậu ta đau lòng, vì thế liền đổi ý nói: “Bố tôi cũng bị viêm gan.”
Sau khi Lâm Vũ Tường phát hiện ra cha mình có tiền sử bệnh viêm gan, cậu tiếp tục nói: “Ông nội tôi cũng bị bệnh viêm gan!” Nói xong mới phát hiện khoác lác hơi quá, ông nội vô tội bỗng biến thành ma bệnh tật, liền hạ giọng sửa lại: “Cũng từng mắc viêm gan thôi!”
“Cậu không bị chứ?”
“Không.”
“Sau này sẽ bị.” La Thiên Thành nói bằng kinh nghiệm của mình.
“Ừm.” Lâm Vũ Tường giả bộ bi thương.
“Đến khi cậu mắc bệnh rồi mới biết thế nào là ấm lạnh tình đời.”
“Thế à…?” Lâm Vũ Tường vừa nói vừa nhích mông ra xa thêm một chút.
Khi Xe chạy đến bên hồ Điện Sơn, cạnh Đại Quan Viên, trong xe mọi người phấn khích reo hò ầm ĩ. Hồ nước ở Thượng Hải phần lớn đều nhiễm cái tính keo kiệt và chật hẹp của người Thượng Hải. Đấng Tạo Hóa dường như đến ngày thứ sáu tạo thế mới vội vàng ghé Thượng Hải đào hồ, bất đắc dĩ vì sức lực không còn, chỉ mang tính tượng trưng mà đục vài cái hố để trấn an dân chúng. Nghe nói người Canada khi nhìn thấy hồ ở Thượng Hải đều kêu lên “Pool! Pit!”, hận không thể mang cả Ngũ Đại Hồ sang để mở mang tầm mắt cho người Thượng Hải. Hồ Điện Sơn là cảnh quan thiên nhiên mà người Thượng Hải tự hào nhất để mang ra khoe, nó đã đủ tư cách để được người Canada tôn xưng là “Pond”. Cả xe người đều hướng về hồ Điện Sơn mà chụp ảnh.
Niềm tự hào của người Thượng Hải đã qua đi trong chớp mắt. Khi chúng tôi đi xe ra khỏi Thượng Hải, con đường trông giống như bàn chân bị nấm. Thường xuyên có ổ gà và những người trên xe phấn khích đến mức cảm thấy buồn nôn. Dư Thu Vũ từng nói rằng cách tốt nhất để đến Chu Trang là thuê thuyền và đi đường thủy. Nguyên nhân có thể là do bàn chân bị nấm không bị ảnh hưởng bởi mặt nước, nhưng ẩn ý là không thể đi bằng đường bộ. Mã Đức Bảo là người không nghe theo lời khuyên, thà tự mình nhảy lầu hoặc bị xe tông chết còn hơn thay đổi quan điểm của mình. Nhảy tới Chu Trang, đã gần chín giờ.
Chu Trang quả thực là một thị trấn cổ. Ngay cả bãi đậu xe cũng mang cảm giác cổ kính và được lát bằng đất. Mấy ngày trước mưa thu dầm dề, sau khi bãi xe khô đi thì cảnh tượng thảm hại, trông như sự tái hiện của Trái Đất lúc vừa hình thành, bị vô số hành tinh va đập. Mọi kiểu xóc nảy trên đường dường như đều tụ họp một lượt về đây để ôn lại kiến thức cũ và rút ra hiểu biết mới.
Tất cả thành viên câu lạc bộ Văn học bước xuống xe, Mã Đức Bảo đếm số người. Ban đầu muốn để tất cả cùng tham gia hoạt động một nhóm, nhưng lo lắng rằng đường phố ở Chu Trang quá hẹp, một đám đông chắc chắn sẽ làm tắc nghẽn, nên quyết định chia thành từng tổ nhỏ, mỗi tổ ba người.
Ngoài Lâm Vũ Tường và La Thiên Thành, còn thêm một cô gái nữa. Cô gái ấy là lớp phó môn Ngữ văn của lớp Lâm Vũ Tường, tên là Thẩm Khê Nhi. Quan hệ giữa cô và Lâm Vũ Tường không mấy tốt đẹp, bởi cô thường đề phòng việc Lâm Vũ Tường sẽ dựa vào vốn kiến thức cổ văn dồi dào của mình để giành lấy vị trí lớp phó của cô. Hồi nhỏ, cô là “hàng xóm của hàng xóm” của Lâm Vũ Tường, rất rõ sự lợi hại của cậu ta ngày trước. Nhưng Lâm Vũ Tường xưa nay đối với phụ nữ là nhìn qua rồi quên, hoàn toàn không nhớ nổi từng có một “hàng xóm của hàng xóm” như vậy. Thực ra, sự hứng thú của Lâm Vũ Tường đối với chức lớp phó Ngữ văn cũng giống như sự hứng thú của cậu đối với con gái, hoàn toàn không có chút nào. Chỉ là có một lần lỡ lời, nói rằng chức lớp phó Ngữ văn không ai khác ngoài mình, khiến Thẩm Khê Nhi hoảng sợ, phải ra sức lấy lòng thầy giáo Ngữ văn cũ, công tác “chống trộm” được làm đến mức kín kẽ, không sơ hở chút nào.
Đối với đàn ông mà nói, chuyện khó chịu nhất chính là trong một chuyến đi có hai nam một nữ, như vậy thì nội bộ vĩnh viễn không thể đoàn kết được. May thay, dung mạo của Thẩm Khê Nhi vẫn chưa đủ để khiến các “đồng chí nam” quay sang tàn sát lẫn nhau. Nếu trên đời có thêm nhiều cô gái như thế này, đàn ông hẳn sẽ hòa bình hơn rất nhiều. Điều may mắn hơn nữa là Lâm Vũ Tường tự hào mình là người không háo sắc. Còn La Thiên Thành dường như đã thành Phật, và cũng không còn lưu luyến gì đến hồng trần.
Trước cổng lớn của Chu Trang đậu kín đủ loại xe công, đủ thấy chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng việc nâng cao tu dưỡng nghệ thuật cho đội ngũ quan chức. Người Trung Quốc rảnh rỗi là thích chui vào trong nhà, người nước ngoài thì ngược lại, vì thế vừa bước vào Chu Trang, trên phố lại toàn thấy người da trắng, khiến người ta ngỡ như đã lạc vào vương quốc da trắng trong tiểu thuyết “Kính Hoa Duyên”. Ban đầu còn phân biệt được đông tây nam bắc, về sau ba người Vũ Tường đến cả phương hướng cũng không biết nữa, nhưng ngược lại lại chơi cho thỏa thích.
Nếu bạn muốn tận hưởng sự quyến rũ của chuyến thăm Chu Trang, thì nhất định phải ném chính mình vào trong lịch sử. Bố cục nơi đó tuy rối mà có chương, tuy loạn mà có trật tự. Kết cấu như vậy rất dễ khiến người ta chán, nhưng còn dễ khiến người ta say mê hơn. Chỉ có điều, mọi phán đoán ấy đều phải đợi đến khi bản thân đã thực sự đắm chìm trong Chu Trang rồi mới có thể đưa ra kết luận.
Với đặc điểm này, Chu Trang có thể giúp phân biệt rất rõ bản chất con người. Ai vừa nhìn thấy lần đầu đã mừng rỡ tột độ thì là giả tạo, ai buồn bã thê lương thì là thực tế, còn không vui không buồn, e rằng chỉ có mỗi La Thiên Thành. Lâm Vũ Tường chơi vui vẻ trong khoảng hai ba giờ, nhưng cảm thấy đó chẳng qua cũng chỉ là một vài dòng sông. Thẩm Khê Nhi vui mừng đến mức nắm tay Lâm Vũ Tường và yêu cầu cậu đi nhanh. Lâm Vũ Tường luôn lùi lại quá xa và bị kẻ thù dắt đi dạo như một con chó.
Thẩm Khê Nhi nũng nịu muốn đi thuyền. Tỷ lệ thành công của những cô gái kém hấp dẫn khi hành động như một đứa trẻ thực sự cao hơn so với những cô gái xinh đẹp. Bởi vì khi một cô gái xinh đẹp nũng nịu, đàn ông không thể không nhìn một lúc rồi mới bỏ phiếu trong lòng rằng liệu có đáng để đáp ứng hay không. Còn hành vi làm nũng của những cô gái kém hấp dẫn cũng giống như kỹ thuật viết lách của các nhà văn phương Tây mà giới trí thức Trung Quốc đã học, họ luôn cảm thấy lạc lõng và có lỗi nên đàn ông sẽ vội vàng đồng ý để ngăn cản các hành động nũng nịu đó lại.
Thẩm Khê Nhi ôm lấy Lâm Vũ Tường đang gật đầu, hưng phấn nhảy cẫng lên, chờ đợi một con thuyền trống. Nghề chèo thuyền ở Chu Trang làm ăn rất phát đạt, ai cũng ước mình có thể chèo thuyền bằng chân để kiếm được nhiều tiền hơn. Cách đó năm mươi mét có một chiếc thuyền đã cạn niềm vui, đang từ từ trở về bến. Người lái thuyền không nhìn sông mà nhìn chằm chằm vào hành khách mà nói cười. Trên thuyền chỉ có một người ngồi, quay lưng về phía Lâm Vũ Tường. Cô ta có khả năng chịu lạnh như một con gấu bắc cực, thậm chí còn mặc váy khi trời thu se lạnh. Mái tóc dài của cô ta xõa xuống gần như che mất chiếc ba lô của cô. Mái tóc dài ấy chói lóa đến mức có thể thắp sáng lòng người, khiến phụ nữ cảm thấy tự ti đến mức muốn cạo trọc đầu. Đàn ông ghét việc tay mình không dài bằng tay của bọn tham nhũng ở địa phương nên chỉ có thể vuốt ve chúng bằng mắt.
Lâm Vũ Tường không khỏi nheo mắt mấy lần, nhưng cậu ta lại nhớ đến trong tiểu thuyết có câu : “Phụ nữ đẹp dùng mặt đối diện với người ta, phụ nữ xấu dùng lưng đối diện với người ta.”, cậu tin rằng cô ấy là một cô gái xấu và không khỏi cảm thấy tiếc cho mái tóc của cô ấy.
Thẩm Khê Nhi cũng nhìn chằm chằm bóng lưng của cô ấy, quên cả nhảy nhót. La Thiên Thành mặc dù đã “nhìn thấu thế giới phàm nhân”, nhưng cậu ta chỉ là nhìn thấu, cậu ta vẫn còn có thể làm được những việc phàm tục trong thế giới phàm nhân, nên chỉ ngơ ngác nhìn chằm chằm tấm lưng với mái tóc dài.
Ba người họ đều im lặng.
Khi thuyền đến gần, Thẩm Khê Nhi lẩm bẩm: “Là cô ấy, là Su… Su…”. Hình như cô ấy biết cô gái trên thuyền, không chắc chắn lắm, nên chỉ phát âm chữ đầu tiên trong tên cô ấy, nếu có sai còn có lối thoát. Người chèo thuyền hẳn phải cảm thấy may mắn khi Thẩm Khê Nhi nhận ra ngay, nếu không thì không biết rằng liệu cô ấy có nói những điều vô nghĩa “Po…Po Po” hay không.
Thẩm Khê Nhi cuối cùng cũng tin tưởng vào thị giác của mình, giống như gà mái đã đẻ trứng xong, sau vài tiếng “gu… gu” rồi cũng kêu lớn: “Susan, Susan”.
Cô gái trên thuyền chậm rãi ngoái đầu lại, làn da trắng như băng tuyết, như tuyết phương Bắc. Cô gái nào mà trắng như tuyết Thượng Hải thì coi như đời cô ta xong rồi.
Thẩm Khê Nhi đã xác định được nên hưng phấn đến mức muốn nhảy mình xuống sông bơi qua. Cô gái trên thuyền vẫy tay chào cô và mỉm cười. Phạm vi của cái vẫy tay đó cực kỳ rộng. Tuy chỉ nhằm vào Thẩm Khê Nhi nhưng Lâm Vũ Tường và La Thiên Thành đều bị ánh sáng của nó cuốn vào, không khỏi giơ tay lên vẫy tay vài cái. Đây là lý do tại sao lựu đạn phải ở một khoảng cách nhất định để phát huy sức mạnh lớn nhất.
Thẩm Khê Nhi coi ánh sáng trên người mình như báu vật, không chịu bố thí cho hai người Lâm La, trợn mắt nói: “Cô ấy không vẫy tay với cậu, sao cậu lại kích động như vậy!”. Nói xong cô ấy nhận ra rằng chữ “cậu” trong tiếng Trung không giống như chữ “You” trong tiếng Anh, không có chức năng bao gồm cả hai người. Cô ấy lập tức quay qua cười nhạo La Thiên Thành: “Này, đừng giả vờ nghiêm túc, cậu cũng vậy, đừng quá đa cảm.”
Thuyền sắp cập bến, Susan chải tóc, ngọt ngào mỉm cười với Thẩm Khê Nhi, nói: “Cậu cũng ở đây à, thật trùng hợp.” Sau đó cô ấy bước một bước nhỏ lên bờ, không may là cô ấy bước không đủ, loạng choạng suýt nữa thì rơi xuống nước. Lâm Vũ Tường đang định đưa tay ra, nhưng Thẩm Khê Nhi thà chết cũng không để Vũ Tường làm bẩn bạn mình, nên cô gạt tay cậu ta ra và đỡ Susan. Susan vẫn còn sửng sốt và mỉm cười với Lâm Vũ Tường. Lâm Vũ Tường tim đập loạn, đầu tiên nghĩ đến “Giai nhân” của Đỗ Phủ, cậu ta mơ hồ nghĩ trong đầu: “Tuyệt thế giai nhân, tuyệt thế giai nhân.” Sau đó hiện lên là “Mỹ nữ nhàn nhã…” trong “Mỹ nữ phú” của Tào Thực. Ý nghĩ này vừa lóe lên thì lập tức biến thành cảnh trong “Tây sương ký” khi Trương Sinh lần đầu tiên gặp Thôi Oanh Oanh, “Nó khiến con người hoa mắt không nói nên lời, còn tâm hồn như đứa trẻ bay giữa bầu trời.” Rồi tự nhiên nghĩ đến cảm giác của Lâm Đại Ngọc khi lần đầu tiên nhìn thấy Giả Bảo Ngọc trong “Hồng lâu mộng”, “Thật kỳ lạ, hình như đã từng nhìn thấy ở đâu rồi, trông rất quen!”. Sau khi vùng vẫy trong văn học cổ Trung Hoa và tiểu thuyết thời Minh Thanh, Lâm Vũ Tường cuối cùng cũng phục hồi tinh thần trở lại và nở một nụ cười.
Thẩm Khê Nhi gặp được bạn, liền không muốn đi thuyền nữa, mà muốn dẫn người bạn này cùng đi chơi. Lâm Vũ Tường đuổi theo nghiêm túc nói: “Này, Mã Đức Bảo nói không được.”
“Mã Đức Bảo, Mã Đức Bảo, cậu cùng ông ta có quan hệ gì? Cậu thật ngoan ngoãn! Đi thôi, Susan.” Thẩm Khê Nhi tức giận nói.
Susan có chút phản ứng, hỏi: “Cậu ấy có phải là Lâm Vũ… người thông thạo văn học cổ mà cậu đã nhắc đến không?”
“Là cậu ấy.” Thẩm Hi Nhi trả lời.
“Ồ, cổ văn kìa…”, nói rồi đưa tay ra: “Xin chào, ngưỡng mộ đã lâu.”
Lâm Vũ Tường mừng rỡ đưa tay ra, khiến La Thiên Thành đứng bên cạnh đỏ mắt ghen tị. Thẩm Khê Nhi vỗ tay người khác đến nghiện, liền gạt phắt tay Susan ra, nói: “Bắt tay làm gì, không sợ bẩn sao?”
Lâm Vũ Tường nắm hụt một cái, lúng túng rụt tay về, gãi đầu nói: “Đâu có, chỉ là đọc qua một chút thôi.”
Susan coi câu trả lời này là sự khiêm tốn, hỏi: “Nghe Thẩm Khê Nhi nói, cậu có thể đọc thuộc “Sử ký” phải không?
Bản thân Lâm Vũ Tường cũng bị sốc, cậu ta ghét Thẩm Khê Nhi vì khoe khoang mà không sử dụng bộ não của mình. Với trí nhớ của Lâm Vũ Tường, việc ghi nhớ “Lão Tử” đã là rất khó. Huống chi ở Lâm gia, “Sử ký” là sách bị cấm, Lâm Vũ Tường làm gì có bản lĩnh này, thậm chí cậu ta còn nhầm lẫn giữa “Thế gia” và “Liệt truyện”. Cậu ta vội vàng nói: “Chuyện hồi nhỏ thôi, bây giờ không được nữa rồi, tớ già rồi!”
Câu đùa gượng này khiến Susan cười khúc khích, đưa tay vuốt tóc rồi ra lệnh: “Thế thì không được, cậu nhất định phải đọc!”
Lâm Vũ Tường bị ép đến mức xua tay liên tục: “Thật sự không có khả năng! Thật sự…” Cậu còn lén nhìn Susan vài lần.
La Thiên Thành bị bỏ lại một mình, tự trách mình chưa đọc “Sử ký”, nếu không thì đã có thể oai phong xông ra, ân cần lấy lòng Susan.
Lâm Vũ Tường thay đổi chủ đề và hỏi: “Cậu không có tên tiếng Trung à?”
Thẩm Khê Nhi trả lời: “Việc gì đến cậu, lúc cô ấy ở Canada tôi vẫn gọi như thế.”
Lâm Vũ Tường hỏi: “Canada thì sao?”
Thẩm Khê Nhi lại trở thành người phát ngôn: “Cậu chưa từng nghe qua sao? Ở nước ngoài có Canada, ở Trung Quốc chỉ có Dacana (ND: Dacana là cách đọc lái âm tiếng Trung có nghĩa là “ai cũng lấy”, ám chỉ việc tham nhũng, ăn chia, vơ vét.)
Lâm Vũ Tường nghe thấy điều này, lòng yêu nước dâng trào, nhưng cậu ta quá lười để chiến đấu với Thẩm Khê Nhi, vì vậy cậu hỏi Susan: “Cậu mặc như vậy không lạnh à?”
Những lời này khiến Susan nhớ đến “cái lạnh” mà cô đã quên mất, cô nói: “Tất nhiên là có, lạnh muốn chết tớ mất, nhưng như thế mới gần với thị trấn Giang Nam chứ, mỹ nhân Giang Nam đều như vậy cả mà.”
Lâm Vũ Tường thấy câu chuyện của Susan đã bị chuyển hướng, tạm thời không còn nguy cơ phải đọc thuộc sách, sự căng thẳng lập tức tan biến, hít thở không khí như một kẻ sành ăn.
“Cậu nhất định phải đọc “Sử ký” đấy nhé, đừng có chối!” Susan cười nói.
Lâm Vũ Tường toát mồ hôi lạnh khắp người. Thẩm Khê Nhi sợ Vũ Tường bị hành hạ đến chết, lòng bác ái trỗi dậy, nói: “Được rồi, Susan, đừng làm khó Lâm đại tài tử nữa. Tại sao cậu lại đến Chu Trang? Thật lạ.”
“Đến chơi chứ sao. Ở Thượng Hải không vui chút nào, núi Xà Sơn trông như cái bánh bao hấp. Ừm! Nhìn mà cũng buồn, vẫn là Chu Trang vui hơn. Cậu đến đây bao lâu rồi? Còn kéo theo một… đại tài tử nữa! Ha ha, tôi không làm phiền hai người chứ? Nếu tôi là bóng đèn thì đành… tắt mất thôi!”
Lâm Vũ Tường bị cách đánh giá núi Xà Sơn của cô làm cho tâm phục khẩu phục, chỉ biết cười ngây ngô. La Thiên Thành thì vô cùng thất vọng, hóa ra nãy giờ Susan vẫn chưa hề phát hiện ra mình, tự trách bản thân lúc nãy quá thâm trầm, tu tâm quá mức, nay quay lại nhân gian liền mất mặt.
Thẩm Khê Nhi thấy Susan hiểu lầm, chán ghét đến mức đứng cách Lâm Vũ Tường một khoảng khá xa, nói: “Ái chà! Cậu xấu xa quá đi! Nói tôi với thằng nhóc này á?” rồi thè lưỡi ra, tỏ ý Lâm Vũ Tường không xứng.
“Nhưng lúc trên thuyền tớ thấy cậu nắm tay cậu ấy.” Susan liệt kê bằng chứng.
Thẩm Khê Nhi sắc mặt đỏ bừng, liều mạng xua tay, hận không thể chặt đứt cánh tay của mình để chứng tỏ mình vô tội: “Đâu có? Là cậu ta nhất quyết muốn giữ tớ lại mà!”
“Cái gì! Tớ… tớ không có.” Lâm Vũ Tường lo lắng giải thích.
Susan ngắt lời: “Tài tử à, cậu thật may mắn. Đừng đối xử tệ với bạn của tớ, nếu không…”
Cái “nếu không” đó làm Lâm Vũ Tường sợ hãi, nhưng Thẩm Khê Nhi vẫn chống cự và nói “Không, không”. Susan không tiếp tục vấn đề này nữa mà xin đi chơi cùng. Đi được một lúc, Susan nhận ra còn có một nam sinh khác nên vội hỏi: “Cậu tên gì?”
La Thiên Thành hãnh diện nói: “Tên tớ là La Thiên Thành, La trong Romeo (La Mật Âu), Thiên…” Cậu ta hận không có trong tay bút mực để phô diễn cho Susan xem phong cách La thư pháp của mình.
Susan nói: “Tớ biết, La Thiên Thành, tớ có nghe nói qua rồi.”
La Thiên Thành kinh ngạc thấy mình nổi danh toàn thế giới, hỏi: “Cậu học trường nào?”
“Cùng một trường với cậu.” Susan cũng hơi kinh ngạc.
Mặc dù La Thiên Thành trông giống như một Phật tử nhưng cậu ta không thể đạt được “sự giác ngộ đột ngột” do Trúc Đạo Sinh chủ trương ở triều đại Đông Tấn. Cậu ta hỏi Susan: “Cái gì cùng…?”
“Là cùng một trường.”
“Cái gì, cùng một trường hả!” La Thiên Thành bối rối. Lâm Vũ Tường cũng kinh ngạc không nói nên lời, một ngôi trường nghèo nàn như vậy lại có thể đào tạo ra đại mỹ nhân, cậu ta chưa từng thấy qua nên không khỏi ngưỡng mộ ngôi trường của mình, nghĩ rằng thị trấn nhỏ này đúng là nơi ngoạ hổ tàng long.
Bốn người cùng nhau dạo chơi ở Chu Trang. Một số con phố cổ của Chu Trang cũng đã được mở rộng “khả năng nuốt – nhả”, có thể cho bốn người đi song song, và lúc đó liền nảy sinh vấn đề là rốt cuộc ai sẽ đi bên cạnh Susan. Thẩm Khê Nhi chỉ có thể che chắn một bên, Susan bên kia không có phòng ngự. Hôm nay Lâm Vũ Tường rất có hảo cảm với Susan. Nếu nói không thể có chàng trai nào mà có thể không có cảm tình khi nhìn thấy mỹ nữ thì điều này hoàn toàn đúng. Ít nhất có những người bề ngoài có vẻ điềm tĩnh như La Thiên Thành nhưng bên trong lại dậy sóng như giông bão ở Mũi Hảo Vọng. Lâm Vũ Tường vẫn kiên định với vẻ ngoài của mình, cậu đi bên cạnh Susan và khen ngợi cô: “Wow, cậu dùng loại dầu gội nào để gội đầu vậy?”
Thẩm Khê Nhi chặn lại, hủy đi câu nói này: “Cậu là ai, sao cứ muốn quản cái này cái kia?”
“Này, tớ hỏi Susan, còn cậu là ai, tại sao lại phải xen vào như vậy?” Điều đau đớn nhất khi bị mắng chính là khi người khác dùng lời nói của bạn để mắng lại bạn, sức nặng sẽ tăng lên rất nhiều. Thẩm Khê Nhi hoàn toàn hiểu rõ, chỉ hận không có thuốc giải, đành phải chấp nhận lời mắng.
Lâm Vũ Tường hỏi lại: “Mối quan hệ của cậu và Susan là gì?”
“Tình bạn… bạn thân.” Thẩm Khê Nhi sau tổn thất nặng nề đã thu được nhiều trí tuệ hơn, nói chuyện như đang đánh cờ, đang suy nghĩ sẵn mấy bước tiếp theo.
“Vậy tốt, cậu có thể can thiệp vào chuyện của bạn thân của mình không?”
Thẩm Khê Nhi không ngờ ngôi mộ vừa đào của mình lại sâu như vậy, liền thở dài lắc đầu. Susan làm theo tinh thần của nhà Thanh, để Nga và Nhật chiến đấu trên lãnh thổ của mình, trong khi cô ngoạ sơn xem hổ đấu.
Tới khi cần thiết, Susan đưa ra một số chỉ dẫn và kêu gọi hai người đình chiến: “Được rồi, các cậu thật chán quá. Tớ đói và muốn ăn trưa. Các cậu có muốn ăn không?”
Thẩm Khê Nhi tức giận nói: “Hai chúng ta đi ăn đi, đừng gọi bọn họ.”
“Không sao đâu, chúng ta cùng ăn nhé.” Susan rất hào phóng.
Thẩm Khê Nhi khuyên Susan: “Này, cậu phải suy nghĩ sáng suốt. Đây là mời sói vào nhà, cậu hiểu không?”
Susan khẽ mỉm cười: “Sói cái gì? Bọn họ không phải là sói.”
Tiềm thức của Vũ Tường đang nói “Chính là tôi”, nhưng vẻ mặt lại nghiêm túc nói: “Tất nhiên là không phải, La Thiên Thành phải không?”
Câu trả lời cho câu hỏi này là vô cùng khó khăn. La Thiên Thành tỉnh táo lại, trả lời “phải” cũng không phải, mà trả lời “không” cũng không phải nên đành bỏ cuộc.
Thẩm Khê Nhi mỉa mai nói: “Này, Lâm Vũ Tường, cậu không phải nói cậu không gần nữ sắc sao? Thế nào?” Cô ấy rất tự hào sau khi nói ra câu hỏi này, nghĩ rằng cậu ta không có khả năng đáp trả được.
Lâm Vũ Tường vội vàng nói: “Bạn bè thì không được sao?” Trên thực tế, những người đàn ông đáng sợ nhất trên thế giới đều khẳng định họ không gần nữ sắc. Chỉ là họ chưa gặp được người phụ nữ lý tưởng mà thôi. Câu “không gần nữ sắc” sẽ ngay lập tức trở thành “không cấm nữ sắc” (ND: chữ “gần” và chữ “cấm” có phát âm giống nhau trong tiếng Trung). Bởi vậy nên môn Lịch sử không cần điều tra xem chữ Hán có phải do Thương Hiệt tạo ra hay không. Tóm lại, chữ Hán chắc chắn là do đàn ông sáng tạo ra, mà còn là do đàn ông phong lưu sáng tạo ra.
Sắp ra khỏi Chu Trang thì phát hiện một quán mì mang đậm vẻ cổ kính. Bên trong, bàn ghế màu nâu sẫm tỏa ra mùi cũ kỹ, vì thế vừa bước vào là đã ngửi thấy ngay hơi thở của lịch sử. Bốn người đói đến mức chẳng kị ăn gì, liền xông vào. Chủ quán hơn bốn mươi tuổi, trắng trẻo béo tốt hơn hẳn mấy cái bánh bao trong tiệm, đúng là kiểu “tâm rộng thân béo” mà bậc quân tử phải có trong “Tứ thư”. Có thân hình của quân tử chưa chắc đã có tấm lòng của quân tử. Chủ quán tuy đã từng ngắm qua không ít mỹ nhân Giang Nam, nhưng vừa thấy Susan cũng không khỏi đói khát như bốn người đang ngồi đó. Ông ta vừa xoa tay vừa hỏi Susan: “Cô bé, em muốn ăn gì?” Ba người còn lại cứ như không hề tồn tại trong quán.
“Này, chú có muốn hỏi chúng tôi không!” Thẩm Khê Nhi không ngừng hỏi.
Chủ quán vội vàng đổi giọng: “Các cô cậu cũng muốn gọi gì không?”
Thẩm Khê Nhi tức đến mức định bỏ đi, Vũ Tường kéo cô lại, bảo thôi đi, ông chủ quán sẽ không có ý đồ sàm sỡ với cô đâu.
Bốn người gọi món xong thì ngồi vừa ăn vừa ngắm cảnh phố xá. Thẩm Khê Nhi nói ông chủ quán không phải người tốt. La Thiên Thành nghiêm nghị nói: “Làm người có thể tầm thường hoặc thanh cao. Nửa thanh cao nửa tầm thường là điều đau khổ nhất. Susan là ngươi thanh cao, chủ quán là người tầm thường, còn tớ là nửa tầm thường nửa thanh cao.” Susan nghe xong thì vô cùng ngưỡng mộ, mỉm cười nói: “Tớ đâu phải là thanh cao gì, nhưng cậu nói đúng!”
Lâm Vũ Tường cảm thấy những lời này rất quen thuộc, cuối cùng nhớ ra rằng cậu ta đã nói trên xe, ngoại trừ Từ Chí Ma được thay thế bởi Susan, Mã Đức Bảo được thay thế bởi chủ quán. Bản thân La Thiên Thành cũng động lòng phàm, và tự nguyện biến mình từ một vị thánh thành một kẻ nửa tầm thường. Lâm Vũ Tường nhảy khỏi ghế và nói: “Cậu đã nói qua điều này! Cậu có phải…”
Thẩm Khê Nhi lắc đầu, nhẹ nhàng cắt lời: “Thì sao, dù sao chúng ta cũng chưa từng nghe thấy, cậu quá ích kỷ, đã nghe rồi thì không cho phép người khác nghe nữa hả.”
La Thiên Thành nói: “Lâm Vũ Tường, cậu quá coi trọng danh lợi rồi, sau này sẽ hối hận đấy. Tớ đã nói rồi, khi một con người sắp chết, thì cái gì…”
Lâm Vũ Tường lần này đã khôn ra, nói cùng với La Thiên Thành: “Danh gì, lợi gì, yêu gì, hận gì, tất cả đều chỉ là một hạt bụi trên nắp quan tài, vì một hạt…”
La Thiên Thành sửa lại: “Là… bụi trần!” Nhân lúc Vũ Tường còn ngẩn ra, cậu ta vội nói nốt nửa câu chân lý: “Vì một hạt bụi trần mà phải vất vả cả đời, có đáng không?”
Susan nghe được liền vỗ tay, nghĩ rằng đó là một kiệt tác do hai người tạo ra. Cô vui vẻ nói: “Các cậu thật tuyệt vời. Một người có thể đọc thuộc lòng “Sử ký” và người kia có thể hiểu triết học. Cố lên, đồng chí Lâm Vũ Tường, xin đọc lại Sử ký.”
Vũ Tường ngạc nhiên vì Susan vẫn chưa quên “Sử ký”, nghĩ rằng một đại mỹ nhân mà lại có trí nhớ siêu phàm như vậy thì quả thật là một điều… đáng tiếc. Cậu bèn thoái thác: “Anh hùng không nhắc lại chiến tích năm xưa, hơn nữa cổ họng tôi không được khoẻ”.
“Vậy thì dễ thôi. Cậu, còn hai người kia nữa, cứ chờ đấy, tớ đi mua coca, cậu nhất định phải đọc đó nhé!” Susan nói rồi chạy ra ngoài mua đồ uống. Lâm Vũ Tường vội vàng hỏi Thẩm Khê Nhi: “Này, cô ấy học lớp nào vậy?”
“Không thể tiết lộ.”
“Hỏi cậu đấy!”
“Không thể tiết lộ.”
Sau hai câu không thể tiết lộ, Susan đã chạy về và nói: “Các cậu ai có thể giúp tớ cầm nó.” Thẩm Khê Nhi đã đoán trước được phần nào, đè hai người đang chuẩn bị đứng dậy, nói: “Tớ sẽ làm, hai người nghỉ ngơi đi.”
Lâm Vũ Tường uống xong đồ uống, biết không trốn tránh được nữa, bèn nói bừa: “Sử ký không có tính nghệ thuật, hay đọc thơ Tống đi, tớ đọc thuộc “Điệp luyến hoa” của Âu Dương Tu…”
“Không được, tớ muốn nghe “Điệp Luyến Hoa” của Liễu Vĩnh.” Susan nói.
Lâm Vũ Tường kinh hãi nghĩ, một cô gái như Susan thực sự biết Liễu Vĩnh thì không phải là đơn giản. Nhớ hồi bảy tám tuổi đã từng học thuộc thơ của Liễu Vĩnh, tất cả cũng là vì cha Lâm không biết những giai thoại giữa Liễu Vĩnh và kỹ nữ, nên mới thả tay cho cậu học thuộc. Nghĩ lại thì ấn tượng về “Điệp luyến hoa” của Liễu Vĩnh đã bị thời gian nghiền nát, nhưng chưa chết hẳn, vẫn còn sót lại chút ít, cậu lắp bắp đọc:
“Đứng tựa… ờ… lầu cao gió nhẹ nhẹ, nhìn xuân đến tận cùng buồn…”
“Sai rồi, là nhìn đến tận cùng, xuân buồn…” Susan sửa lại. “U ám sinh nơi chân trời. Trong sắc cỏ, làn khói, ánh chiều tàn. Lặng im, ai thấu nỗi lòng tựa lan can? Định đem sự phóng túng đổi lấy một cơn say. Đối rượu mà ca, gắng vui rồi vẫn nhạt. Áo lưng ngày một rộng mà vẫn không hối hận. Vì người ấy mà chịu hao mòn, tiều tụy. Đúng không?”
Lâm Vũ Tường không nói nên lời, bắt đầu nhìn Susan bằng con mắt khác.
Thẩm Khê Nhi chế giễu: “Hồi nhỏ còn học thuộc văn cổ nữa cơ đấy! Hi hi, cười chết mất. Susan, giỏi lắm!”
Lâm Vũ Tường nói thật: “Tớ không thuộc thơ của Liễu Vĩnh lắm, nhưng của Âu Dương Tu thì còn tạm được.”
Thẩm Khê Nhi nói: “Nói khoác!” Lâm Vũ Tường buồn bực nghĩ đây là sự thật.
Susan minh oan cho Lâm Vũ Tường: “Đúng vậy, con trai ngày nay quá hời hợt. Thật hiếm có tài năng như Lâm Vũ Tường.” Lâm Vũ Tường nghe xong liền mừng rỡ, muốn gật đầu thừa nhận, cười ngượng ngùng.
La Thiên Thành bị loại khỏi cuộc trò chuyện giữa ba người, chí lớn chưa thành, giống như Mao Trạch Đông bị loại khỏi “Bộ ba lãnh đạo quân sự hàng đầu” trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân, không ai đoái hoài, lại càng giống một con cá trong Thiếu Lâm Tự… tất nhiên là không tính Thiếu Lâm Tự ngày nay.
Susan phát hiện mình bỏ sót La Thiên Thành, liền chữa cháy: “Cậu cũng vậy, triết gia vĩ đại ạ.”
La Thiên Thành được khen thì phấn chấn, trong miệng tuôn ra không dứt những lời chí lý, nào là: “Đời là giả, sự giản dị mới là thật”, khiến Susan trong mắt sáng lên.
Sau một quãng chờ đợi dài dằng dặc, món ăn cuối cùng cũng được mang lên. Bốn người mỗi người một bát mì. Khác biệt ở chỗ, mì của Susan sợi nào sợi nấy căng tràn sức sống, trông cũng mang dáng dấp của một quân tử. Tái lại, mì của ba người còn lại thì như đã trải qua bao tai ương, vàng vọt gầy gò. Nói theo cách của giới chính khách, bát mì của Susan đủ để mang ra quốc tế nhằm gây dựng lòng tự tin dân tộc. Còn mì của những người khác thì là sự phản ánh mâu thuẫn nội bộ của dân tộc.
Thẩm Khê Nhi quăng đũa nói: “Không ăn nữa!” Susan vội vàng xin lỗi rối rít, chia mì cho cô. So sánh thêm chỉ càng làm người ta bực bội, thịt bò trên bát mì của Susan nhiều đến mức bằng tổng của ba người kia cộng lại, còn chất lượng thì khỏi phải nói. Đặt cạnh nhau, ba tô kia trông chẳng khác nào những a hoàn đứng bên khi Juliet xuất hiện, chỉ để làm nổi bật sự xuất chúng của chủ nhân.
Susan đành phải chia thịt bò lần nữa, Lâm Vũ Tường may mắn được một miếng, trong lòng cảm động tự hỏi tìm đâu ra một cô gái chu đáo như vậy, không khỏi nhìn thêm mấy lần nữa rồi giả vờ như vô tình hỏi: “Này Susan, cậu nghĩ bạn trai lý tưởng của mình là người như thế nào?” Hỏi xong, trong lòng cậu tự khen mình đã khống chế giọng điệu rất tốt. Cách hỏi này giống hệt con trai nhà phía đông trong thơ Tống Ngọc, “thêm một phần thì quá dài, bớt một phần thì quá ngắn”, nằm lưng chừng giữa dung tục và phơi bày, vừa vặn đúng mực.
Susan nói: “Tớ muốn cậu ấy đứng thứ nhì toàn khối!”
“Tại sao không phải là số một?”
“Ừm, bởi vì tớ là số một, tớ không muốn cậu ấy vượt qua mình, như vậy tớ sẽ… hì hì, có phải là rất ích kỷ không?” Susan cười tinh nghịch.
Những điều khiến Lâm Vũ Tường kinh ngạc hôm nay còn nhiều hơn cả những cây cầu ở Chu Trang. Cậu bỗng nhiên nhận ra, hóa ra cô ấy chính là “mỹ nhân lạnh lùng” đứng đầu khối mà người ta vẫn truyền tai nhau bấy lâu nay, chỉ hận mình hiểu biết quá nông cạn. Người đẹp cũng giống như cảnh đẹp, nghe người khác nói thì chỉ thấy cũng thường thôi, nhưng tận mắt chứng kiến mới vui vẻ nhận ra quả nhiên là đẹp. Có thể thấy trong chuyện tình yêu, thứ dễ lừa người nhất không phải là đôi mắt, mà là đôi tai.
Cảm giác của Lâm Vũ Tường lúc này chỉ còn là thất vọng, bởi cậu tuyệt đối không có thực lực để đạt hạng nhì toàn khối.
Thẩm Khê Nhi lại quấn lấy Susan nói chuyện, chẳng qua cũng chỉ là mấy bài toán, nói xong hai người còn nhìn nhau cười. Lâm Vũ Tường muốn chen vào mà không chen được, trong lòng tức tối, thầm nghĩ đã nói xong rồi thì cớ gì còn chiếm dụng tuổi xuân quý báu của Vũ Tường này chứ. Trong mắt người đời, chiếm nhà xí mà không đi thì đáng ghét, nhưng thật ra, đáng ghét nhất là đã đi xong rồi mà vẫn còn chiếm nhà xí.
Lâm Vũ Tường rụt rè thò đầu ra định hỏi, bất kể hay dở, vừa mới ló mặt thì câu hỏi đã bị Thẩm Khê Nhi chém gục không sai một nhát. Tức quá, cậu bèn hỏi thẳng: “Susan, cậu đã từng… cái đó… chưa?”
Câu hỏi này tuy mơ hồ, nhưng nhờ hàm chứa quá nhiều nội dung, nên được tôi luyện đến mức vững như tường đồng vách sắt, Thẩm Khê Nhi có muốn chém cũng không chém đứt được.
Trên mặt Susan không ngừng ửng đỏ, cô cắn môi nói: “Đương nhiên là chưa… thật sự là chưa.”
Trong lòng Lâm Vũ Tường nhẹ nhõm đi rất nhiều. Con trai bây giờ đều đã bóp méo Plato, chọn mỹ nhân cứ như chọn đồ ăn, thứ đã bị người khác cắn qua thì tuyệt đối không lấy. Vũ Tường vinh dự nghĩ rằng mình muốn cắn miếng đầu tiên.
La Thiên Thành muốn tranh cắn với Vũ Tường, bộc lộ trần trụi bản tính động vật của con người. Lâm Vũ Tường xin Susan số điện thoại. La Thiên Thành vừa ăn mì vừa âm thầm ghi nhớ. Nhân sinh quan của cậu ta không thay đổi nhiều, nhưng quan niệm về tình yêu thì đã thay da đổi thịt hoàn toàn, cảm thấy mỹ nhân vẫn nên có thì hơn. Mỗi lần La Thiên Thành nhớ lại sự biến đổi dữ dội trong nội tâm mình đều giật mình, giống như một người ra ngoài một chuyến, lúc trở về phát hiện ngôi nhà của mình đã bị thay bằng một căn khác, chắc chắn sẽ có cảm giác kinh ngạc như thế. Nhà của Lâm Vũ Tường thì chưa đổi, chỉ có chủ nhà là đã đổi. Ngọn lửa nhiệt tình cuối cùng cũng không thể kìm nén, bùng cháy dữ dội, cháy mạnh đến mức có thể khiến các mỏ dầu Kuwait cũng phải tự ti mà chết.
Những điều đó dĩ nhiên chỉ là biến chuyển trong nội tâm. Bề ngoài, cả hai người đều bình thản như mặt nước chết. Đột nhiên Susan vui mừng phát hiện ra điều gì đó, kêu lên: “Ồ, trên mặt bàn có một bài thơ.” Hai cái đầu của Lâm và La vội vàng ghé sát lại. Lâm Vũ Tường lúc này đang lòng dạ xao động, cảm hứng thi ca cũng theo cảm xúc mà sinh ra. Cậu nhìn thấy trên mặt bàn có người khắc một bài thơ:
Nằm xuân
Nằm bên mai ngửi hương
Ta biết vẽ giữa trời
Cá hôn hòn đá nằm
Trên đá sắc xuân xanh
Lâm Vũ Tường kêu lớn: “Hay! Thật là một bài thơ hay!” Rồi thao thao bình luận: “Bài thơ này không chú trọng niêm luật, chắc chắn không phải do Hàn Dũ sáng tác. Loại thơ ngũ ngôn tứ tuyệt này hẳn là do Liễu Tông Nguyên sáng tác vào thời kỳ ông phản đối văn biền ngẫu, tớ từng thấy trong “Lịch sử văn học Trung Quốc”. Theo trí nhớ của tớ, mai nằm là loại hoa mai có nhiều ở miền Bắc, cành dài và ngang giống như đang nằm. Chủ nhân đang nằm trong phòng, trong lòng phác họa cảnh tượng mình ở giữa không gian. Còn hòn đá nằm thì hình như xuất hiện trong một cuốn sách cổ nào đó? “Vạn Lịch dã hoạch biên”? Hình như đúng vậy, trong đó có nhắc tới một nơi, ở Vân Nam? Có lẽ thế, đó là một thắng cảnh, bên cạnh có một đầm nước gọi là Thạch Thủy, những con cá đều đang hôn hòn đá nằm. Đoạn này viết thật là thần diệu, có phong thái của đoạn viết về cá trong “Chí Tiểu Khâu Tây Tiểu Thạch Đàm Ký” thuộc “Vĩnh Châu bát ký” của Liễu Tông Nguyên. Cuối cùng, đá nằm dường như đang đáp lại rằng mùa xuân đã đến rồi… Thơ hay! Ý và cảnh đều hay!”
Susan nghe không chớp mắt, rồi hết lời khen ngợi: “Chà, Lâm Vũ Tường, cậu thật tuyệt vời!”
Lâm Vũ Tường luyên thuyên một hồi về tên vài cuốn sách và bài văn đã thu được kết quả ngoài ý muốn, lòng kiêu ngạo của cậu ấy được thỏa mãn, tham vọng lại cao hơn, không ngờ La Thiên Thành ở một bên lạnh lùng nói: “Hãy thử đọc nó thêm vài lần nữa xem.”
Lâm Vũ Tường đọc nó thêm ba lần nữa. Susan bật cười, khen La Thiên Thành thông minh. Lâm Vũ Tường vội vàng hỏi có chuyện gì, Susan cười đến không nói được lời nào, La Thiên Thành cũng cười theo. Thẩm Khê Nhi thoạt đầu không hiểu, sau khi nghe thơ mấy lần cũng cười muốn tắt thở. Lâm Vũ Tường cẩn thận im lặng đọc bài thơ thêm vài lần, đột nhiên mặt đỏ bừng. Thì ra từ đồng âm của bài thơ này là:
Tôi ngu
Tôi không có văn hoá
Tôi chỉ biết làm ruộng
Muốn hỏi tôi là ai
Tôi là một thằng ngu
Sau khi nhận ra điều này, da đầu cậu ta tê dại. Nghĩ lại vừa rồi mình đã lôi ra cả một đống thứ để nói, vừa tức, vừa hối hận, vừa xấu hổ, đành cúi đầu ăn mì.
La Thiên Thành không cho Vũ Tường cơ hội mượn bát mì để che sự ngượng ngùng, nói: “Chắc mọi người cũng ăn gần xong rồi nhỉ, đi thôi, vẫn còn nửa ngày nữa.”
Susan xua tay nói: “Không, tớ không có nửa ngày nữa, buổi chiều tớ phải về, các cậu đi chơi đi.”
Vũ Tường bước ra khỏi cái bóng thất bại, lưu luyến vô cùng, nói: “Không sao. Buổi tối cậu có thể về cùng câu lạc bộ Văn học, dù sao cũng thuận đường.”
“Không, tớ không còn là hội viên của câu lạc bộ Văn học.”
Vũ Tường hận rằng mình không có quyền nhận Susan ngay tại chỗ, âm thầm lợi dụng Mã Đức Bảo: “Thầy Mã là người rất tốt.”
Susan kiên trì nói: “Điều đó thực sự không thể, tớ vẫn còn việc phải làm.”
La Thiên Thành làm trọng tài nói: “Được rồi, Lâm Vũ Tường, đừng quấy rầy cô ấy. Trên đời không có bữa tiệc nào mà không tàn. Đến lúc phải rời đi hãy để cô ấy đi.” Rồi đột nhiên hỏi: “Susan, cậu quyết định khi nào đi?”
“Vẫn còn nửa giờ nữa.”
“Chi bằng hãy tham quan Thoái Tư viên xong rồi hẵng tính tiếp.” Lâm Vũ Tường đề nghị.
La Thiên Thành cười nói: “Thiên tài ơi, đây là Chu Trang, không có Thoái Tư viên, ở đây chỉ có Thẩm Gia Trang.” Lâm Vũ Tường lại lần nữa xấu hổ không nói nên lời.
Thẩm Khê Nhi nghe tới gia trang của tổ tiên liền hưng phấn đến mức nhất quyết muốn kéo Susan tới đó. Bốn người vội vàng thanh toán tiền, chủ quán không níu giữ được họ, chỉ đứng cười hề hề ở cửa. Bốn người đi loanh quanh hồi lâu, cuối cùng cũng tìm được Thẩm Gia Trang.
Người có tinh thần, chết rồi tinh thần vẫn không chết. Cũng theo lý ấy, người có tiền chết rồi, tiền cũng không chết. Tiền của Thẩm Vạn Tam đã lôi cuốn du khách trong và ngoài nước đông như mắc cửi. Mật độ dân số trong Thẩm Gia Trang đang trực tiếp dạy cho người ta hiểu tầm quan trọng của kế hoạch hóa gia đình. Bốn người nhanh chóng tách ra, Thẩm Khê Nhi đi theo La Thiên Thành, Lâm Vũ Tường may mắn được ở bên cạnh Susan. Cảm giác hai người ở cùng nhau tốt hơn nhiều so với cảm giác bốn người ở cùng nhau. Trong biển người Susan và Vũ Tường ở rất gần nhau, mùi thơm từ tóc Susan phả vào mặt khiến cậu ta không khỏi có cảm giác muốn vươn tay về phía cô ấy, đó là bản năng. Theo một truyền thuyết cổ xưa, khi Thượng Đế tạo ra con người, lứa người đầu tiên có hai đầu, bốn tay và bốn chân, là loài lưỡng tính trong sinh học ngày nay. Tuy nhiên, Thượng Đế cho rằng họ quá thông minh nên đã chia “con người” làm hai, vì vậy đàn ông có bản năng tìm kiếm người phụ nữ là một nửa của mình. Tất nhiên, cũng có những người tìm sai, ví dụ như những người đồng tính luyến ái. Lâm Vũ Tường bật cười khi nghĩ đến truyền thuyết này.
Susan hỏi: “Cậu cười cái gì?”
Lâm Vũ Tường sợ lại trích dẫn sai, lắc đầu nói: “Không có gì đâu.” Nghĩ lại vẫn thấy buồn cười. Chẳng trách trong các bộ phim truyền hình tình cảm bây giờ thường có những câu thoại kiểu như: “Hai chúng ta ăn cơm riêng với nhau.” Thực ra, xét theo logic hình thức thì câu này không thông, hai người thì sao gọi là “riêng”. Nhưng xét theo thần học thì lại bỗng nhiên thông suốt. Chỉ có hai người mới thực sự được ghép thành một con người trọn vẹn, nên mới gọi là “riêng”. Còn một người ăn cơm, nhiều lắm cũng chỉ là nửa con người mà thôi. Lâm Vũ Tường, nửa con người này, đã tìm được nửa kia của mình, tuy không biết có phải “nguyên phối” hay không, nhưng vẫn vui sướng đến mức chỉ muốn ở gần.
Hai người đứng sát lại gần hơn. Susan tự giác né sang bên một bước, không cẩn thận giẫm trúng chân người khác. Bên cạnh người đó có hai cô thư ký, đang định mở miệng chửi, nào ngờ người bị giẫm thấy nụ cười xin lỗi của Susan thì lập tức lùi lại, miệng liên tục nói: “Sorry, sorry.” Hai nữ yêu xuất hiện trong các câu truyện ma đang cố gắng thay mặt ông chủ giải quyết mối bất bình nhưng không thành công nên đã xoay tròng mắt.
Lại đi dạo một vòng nữa, Susan lo lắng không thể gặp lại Thẩm Khê Nhi nên muốn xuống lầu tìm cô. Vũ Tường khuyên cô: “Người tìm người, còn khó hơn tìm người chết.” Susan cười bướng bỉnh nói: “Tớ không quan tâm tìm người chết hay người sống, cô ấy là bạn của tớ, tớ nhất định phải tìm được cô ấy.” Sau đó cô ấy rẽ sang một bên bỏ rơi Vũ Tường. Vũ Tường không giữ được cô ấy nên đành phải đi theo.
Hai người đang đi vòng tròn trong Thẩm Gia Trang, Lâm Vũ Tường lơ đãng giẫm lên chân người ta. Sau khi dẫm lên chân người khác đến mức trở thành chuyên gia, cậu ta nghĩ đến quy tắc sau. Khi dẫm lên chân người Trung Quốc, bạn không được nói “Xin lỗi”, mà phải nói “Sorry” thì nạn nhân sẽ tha thứ cho bạn, có thể thấy ngoại ngữ có giá trị hơn tiếng Trung. Một lời “Sorry” bạn nói có thể có giá trị bằng mười câu “Xin lỗi”, phù hợp với tỷ giá hối đoái của Nhân dân tệ so với đô la Mỹ và bảng Anh, đủ để chứng minh mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và nền kinh tế. Và cũng không cần phải lo lắng về việc giẫm lên chân người nước ngoài. Ngón chân của họ to bằng sự giàu có của họ, hoàn toàn không có nguy cơ đau khi bị giẫm đạp, thậm chí bàn chân của mình còn bị đau.
Trong biển người rộng lớn, Susan vô cùng bất ngờ khi thấy Thẩm Khê Nhi đang đứng ở cửa nên liền lao tới và nói: “Tớ tìm thấy cậu rồi!”
Lâm Vũ Tường cũng theo sau. Thẩm Khê nhi tra hỏi: “Các cậu đã làm gì?”
“Tìm cậu!” Susan ngây thơ nói.
“Tạm thời tin vậy. Ôi, Susan, thời gian của cậu sắp hết rồi!”
“A, thực sự tớ phải quay lại nhanh thôi.”
Lâm Vũ Tường nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của La Thiên Thành, cảm thấy vẻ ghen tị trên mặt cậu ta còn mạnh hơn tâm trạng mùa thu ở Chu Trang. Cậu ta vỗ vai La Thiên Thành, rộng lượng nói: “Thoải mái hơn một chút đi.” Sau đó nói với Susan: “Chúng tớ tiễn cậu nhé!”
Susan mỉm cười nói: “Không, tớ sẽ tự đi. Hôm nay tớ vui quá.” Vũ Tường muốn hỏi gì đó, nhưng lại nhìn thấy Susan và Thẩm Khê Nhi đang thân mật tạm biệt nhau, thật khó để xen vào cuộc trò chuyện nên đành bỏ cuộc.
Susan vẫy tay chào Lâm Vũ Tường và nói lời tạm biệt, sau đó quay người biến mất vào sâu trong con hẻm cổ. Trên phố chỉ còn lại những người qua đường với vẻ mặt vội vã. Vũ Tường đứng ngẩn người, phóng tầm mắt nhìn xa, bóng dáng trong trẻo kia đã sớm không còn, nhưng cậu vẫn cứ hết lần này đến lần khác hồi hiện lại trong mắt, trong tai, còn trong lòng thì trống rỗng một mảng. Sự náo nhiệt vừa rồi đã trở nên nhạt nhòa đến mức không còn cảm giác, những dòng suy nghĩ từng có cũng đông cứng lại, như thể ngay cả trái tim cũng có thể bị định dạng vậy.
Vũ Tường không đành lòng nên quay đầu nhìn dòng sông bên cạnh, chợt phát hiện ra điều gì đó, cậu nhìn kỹ rồi kêu lên: “Mưa!” Mọi người trong bán kính năm mét ngẩng đầu nhìn trời, trời không phụ mong đợi của mọi người, mưa ngày càng dày đặc trên mặt sông. Trên mặt đất đã có những hạt mưa, trước mắt mờ mịt như sương mù. Ba người rúc vào mái hiên trú mưa, xung quanh đầy người. Lâm Vũ Tường bám vào một cô gái có mái tóc dài, mặc quần áo sặc sỡ và thường lấy gương ra để xem khuôn mặt của mình có bị mưa làm hỏng hay không. Trên người có một mùi thơm kỳ lạ… mùi thơm đến mức bốc mùi. Cô ấy đang bám vào một người đàn ông đầu trọc, đó chính là điều có vẻ như Thượng Đế đôi khi đã nhầm lẫn. Người đàn ông này ước tính bằng tuổi Đại học Bắc Kinh, nhưng tâm hồn ông không hề già. Ông ta thường dùng tay chải tóc, chỉ hận rằng không có tóc để chải, chỉ đành vuốt ve tới lui. Trong khi cái tay kia cũng không nhàn rỗi, ôm chặt những thứ đầy sặc sỡ. Vũ Tường nhịn không được chen lấn sang một bên, những người khác hét lên: “Ôi, sao ngươi lại ép!” Lâm Vũ Tường sợ hãi đứng im. Một số người mang theo ô và mở chúng ra trước ánh mắt ao ước của người khác, cảm thấy mừng vì dự báo thời tiết hiếm khi đúng.
Ấn tượng về Susan dần dần mờ nhạt trong tâm trí Vũ Tường. Vũ Tường gần như quên mất vẻ ngoài của cô ấy. Đột nhiên nhớ ra điều gì đó và hét lên: “Thôi xong rồi!”
Thẩm La hai người giật mình hỏi có chuyện gì. Vũ Tường nói: “Susan không mang theo ô, cô ấy sẽ bị ướt.”
“Đừng lo lắng nhiều như vậy, cô ấy không phải là một đứa trẻ.” La Thiên Thành và Thẩm Khê Nhi cùng nhau nói.
Giang Nam càng trở nên phong nhã và độc đáo hơn trong mưa. Khói trong quán ăn vặt trộn lẫn với mưa, từ từ bay lên trời. Những người đang trú mưa cảm thấy áy náy nên phải mua một ít cho có. Trên các gian hàng thư pháp và hội họa, những bức tranh mờ sương đó cuối cùng cũng chờ được thời tiết với quan niệm nghệ thuật tương tự, bất kể chất lượng ra sao, chúng đều bán rất chạy. Nhiệt độ trở nên lạnh hơn rất nhiều. Người đàn ông đầu trọc ôm chặt cô gái để giữ ấm. Lâm Vũ Tường vẻ mặt bối rối, chỉ lo Susan bị lạnh, muốn lao ra ngoài. La Thiên Thành run rẩy một cái, Thẩm Khê Nhi cắn chặt môi.
Vũ Tường từ bỏ ý định đuổi theo Susan, vì cho dù có đuổi kịp thì cũng chẳng thể làm gì. Thế là cậu bắt đầu để ý đến các thiếu nữ Giang Nam. Bị Susan khơi dậy những ham muốn vốn giấu kín từ lâu, cậu bỗng nảy sinh hứng thú nghiên cứu đối với con gái, chăm chú nhìn các cô gái miền sông nước qua lại trên đường. Trên phố hiếm có người đẹp. Bởi vì thời buổi này, số người đẹp mỗi ngày lên giường một lần còn nhiều hơn số người đẹp mỗi ngày ra phố một lần. Phàm là con gái hơi có nhan sắc, đều đứng trong các khách sạn lớn, rất có nhan sắc thì nằm trong các khách sạn lớn, cực kỳ có nhan sắc thì nằm trong vòng tay của các giám đốc khách sạn. Thỉnh thoảng mới có vài cô gái thanh tú thoát tục, thong thả bước qua, vô cùng đoan trang. Nhìn họ một cái, họ e thẹn cúi đầu mỉm cười, tăng nhanh bước chân đi ngang qua trước mặt Vũ Tường, điều này là thứ mà người đẹp Thượng Hải không có. Người đẹp Thượng Hải đi trên phố xưa nay luôn nhìn thẳng phía trước, cao ngạo chỉ ngó về phía trước, ngay cả lúc băng qua đường cũng không ngoại lệ. Nhưng đàn ông Thượng Hải thì phần lớn lại không nhìn thẳng, cố sức tìm kiếm người đẹp. Cơ mặt đã được huấn luyện đến mức có thể tách khỏi sự điều khiển của não bộ mà hoạt động độc lập, hễ thấy người đẹp là tự động gọi ra một nụ cười. Chính vì được chú ý như vậy nên ở Thượng Hải người ta chỉ nghe đến chuyện ô tô tông vào phụ nữ lớn tuổi, hiếm khi nghe đến chuyện ô tô tông vào phụ nữ xinh đẹp.
Lâm Vũ Tường rất tự hào về ý tưởng bất chợt của mình về giao thông, cậu muốn kể cho Susan nghe về điều đó như một thói quen. Nhưng khi quay lại và nhận ra Susan đã biến mất, cậu cảm thấy trống rỗng trong chốc lát và thở dài thất vọng.
Trời đã mưa gần một tiếng đồng hồ, và Susan hẳn đã ở trên đường rồi. Ba người lại đi tham quan Nam Hồ, giữa làn nước lấp lánh, cả ba đều im lặng. Lâm Vũ Tường dường như đã kết mối thâm thù với La Thiên Thành, hai người đều lười đến mức chẳng buồn ngước nhìn dung nhan của đối phương.
Chiều tối buông xuống, gió cũng mạnh hơn như đang xua đuổi du khách. Khi ba người vội vã quay về, dọc đường liên tục bị chặn lại hỏi có muốn thuê phòng trọ hay không. Khó khăn lắm mới lên được xe, sự hưng phấn lúc đi đã không còn nữa, chỉ còn lại mệt mỏi và nuối tiếc.
Mã Đức Bảo đang đứng tại chỗ diễn thuyết, cầm cuốn sổ nhỏ vừa mua để giới thiệu lịch sử thị trấn. Lại nói rằng ông đã nhận được lời mời từ một cuộc thi viết toàn quốc, muốn dẫn dắt cả câu lạc bộ gửi bài tham dự.
Lâm Vũ Tường vẫn chưa có ý định dự thi. La Thiên Thành thì quay lại vẻ trầm mặc vốn có, thao thao về cái gọi là “ý thức bi kịch của cuộc đời”, nào là: “Đời là giả, sự giản dị mới là thật, thờ ơ với danh lợi, rũ sạch phồn hoa, gột bỏ lớp phấn son”. Nói đến mức các nữ hội viên xung quanh đều khen cậu ta là Lưu Dung thứ hai. Thấy La Thiên Thành vẫn không hề vui mừng, họ lại khen ngược lại rằng Lưu Dung mới là La Thiên Thành thứ hai.
Lâm Vũ Tường tư tưởng hoàn toàn trống rỗng. Gương mặt u sầu của cậu tan vào ánh hoàng hôn.