Câu chuyện này cho thấy lòng tham có thể khiến con người trở thành nạn nhân của chính mình.
값이 싼 점심
어느 작은 마을의 레스토랑에 멋진 옷을 입은 손님이 들어왔어요. 옷차림을 보니 큰 부자처럼 보였죠.
“손님, 무엇을 드시겠습니까?”
레스토랑 주인이 친절하게 손님을 맞았어요. 레스토랑이 있는 곳은 작은 마을이라서 부자 손님이 찾아오는 일은 아주 드물었어요. 오랜만에 돈을 벌 좋은 기회였던 것이에요.
“우선 내 주머니 안의 돈만큼 맛있는 고기 수프를 주게. 그리고 내 주머니 안의 돈만큼 스테이크와 샐러드도 주게.”
손님이 거드름을 피우며 주문을 하자 레스토랑 주인은 눈을 반짝이며 생각했어요.
‘흐흐흐, 분명 주머니에 많은 돈이 들어 있겠지? 그러니까 음식을 맛있게 만들어서 큰돈을 벌어야지.’
레스토랑 주인은 돈을 왕창 벌 욕심에 값비싼 와인까지 권했어요. 그러자 손님이 흔쾌히 고개를 끄덕였어요.
“좋아, 내 주머니 안의 돈만큼 맛있는 와인을 주게.”
“네, 손님!”
그때부터 남자는 테이블에 올라오는 최고급 음식들을 배가 터지게 먹었어요. 그리고 드디어 음식 값을 내는 순간이 다가왔어요. 남자가 주머니에서 돈을 꺼내어 주인에게 건넸어요. 그런데 남자가 건넨 돈을 본 주인이 깜짝 놀라 물었어요.
“하하하, 농담이시죠? 이 정도 돈으로는 어림도 없습니다. 열 배를 받아도 모자란답니다.”
하지만 손님은 태연한 얼굴로 이렇게 대답했어요.
“나는 분명 ‘내 주머니 안의 돈만큼’이라고 말했었네. 이게 내 주머니 안의 돈 전부라네.”
남자의 말에 주인은 불끈 화가 치솟았어요. 하지만 손님의 말이 맞으니 대꾸할 수가 없었죠. 그래서 잠시 생각을 한 주인이 남자에게 말했어요.
“속상하지만 점심은 손님에게 베풀어 드린 것으로 하겠습니다. 그 대신에 부탁이 있습니다. 이 돈마저 돌려 드릴 테니 옆집 레스토랑에서도 똑같이 해 주십시오.”
레스토랑 주인은 옆집 레스토랑 주인과 사이가 좋지 않았어요. 자기도 속아서 큰 손해를 봤으니, 옆 레스토랑도 자기처럼 손해를 보기 바랐던 것이죠.
“좋네.”
남자는 빙긋 웃으며 대답하고는 돈을 돌려받아 주머니에 넣었어요. 그리고 밖으로 나가다 말고 고개를 돌려 이렇게 말했어요.
“나는 이미 옆 가게에는 다녀왔다네. 물론 ‘주머니 속의 돈’으로 식사를 했지. 그리고 자네 가게에 가 달라는 부탁을 받았다네. 하하하~!”
남자의 말에 주인은 입을 떡 벌리고 아무 말도 하지 못했다고 합니다.
Từ vựng:
레스토랑 : nhà hàng, quán ăn
옷차림 : cách ăn mặc
부자 : người giàu có
드물다 : hiếm, không nhiều, không phổ biến
수프 : món súp
스테이크 : món bít tết
샐러드 : món sa lát
거드름 : vẻ kiêu căng, ngạo mạn
왕창 : rất nhiều
흔쾌히 : một cách sảng khoái, một cách vui thích
배가 터지게 : no vỡ bụng
꺼내다 : lấy ra, kéo ra, lôi ra
건네다 : trao, đưa
모자라다 : thiếu, kém
치솟다 : dâng lên, trào lên
대꾸하다 : đáp lại, trả lời lại, phản ứng
손해 : tổn hại
빙긋 : tủm tỉm
입을 떡 벌리고 : há hốc miệng
Dịch tiếng Việt:
Có một vị khách ăn mặc sang trọng bước vào một nhà hàng ở một thị trấn nhỏ. Nhìn cách ăn mặc của ông ta, ai cũng nghĩ đây là một người giàu có.
“Thưa ngài, ngài muốn dùng món gì ạ?”
Chủ nhà hàng niềm nở chào đón vị khách. Vì đây là một thị trấn nhỏ nên rất hiếm khi có một vị khách giàu có ghé thăm. Đây là cơ hội tốt để kiếm tiền sau khoảng thời gian dài.
“Trước hết, hãy cho tôi một bát súp thịt ngon tương ứng với số tiền trong túi tôi. Sau đó, hãy mang ra một phần bít tết và salad với số tiền tương đương trong túi tôi.”
Vị khách tỏ ra vẻ kiêu căng khi gọi món. Chủ nhà hàng nghe vậy thì mắt sáng lên và thầm nghĩ:
‘Hừm, chắc hẳn ông ta có rất nhiều tiền trong túi! Vậy nên mình phải làm những món ăn thật ngon để kiếm được món hời lớn.’
Với lòng tham kiếm thật nhiều tiền, chủ nhà hàng còn đề nghị vị khách dùng một chai rượu vang đắt đỏ. Nghe vậy, vị khách gật đầu vui vẻ.
“Tốt lắm, hãy cho tôi loại rượu ngon tương ứng với số tiền trong túi tôi.”
“Vâng, thưa ngài!”
Vậy là từ lúc đó, hàng loạt món ăn cao cấp được dọn lên bàn, và vị khách ăn uống no nê đến mức no vỡ cả bụng. Cuối cùng, thời khắc thanh toán cũng đến. Vị khách lấy tiền từ trong túi ra và đưa cho chủ quán. Nhưng khi nhìn số tiền ấy, chủ quán kinh ngạc thốt lên:
“Ha ha ha, ngài đùa sao? Số tiền này còn lâu mới đủ! Ngay cả gấp mười lần cũng chưa đủ thanh toán đâu!”
Nhưng vị khách lại trả lời với vẻ mặt bình thản:
“Tôi đã nói rõ ràng là ‘tương ứng với số tiền trong túi tôi’. Và đây chính là toàn bộ số tiền trong túi tôi.”
Nghe vậy, cơn giận của chủ quán bốc lên, nhưng vì lời nói của vị khách hoàn toàn đúng nên ông ta không thể phản bác. Sau một hồi suy nghĩ, ông ta nói với vị khách:
“Thật bực mình, nhưng coi như bữa trưa này tôi mời ngài. Tuy nhiên, tôi có một yêu cầu. Tôi sẽ trả lại ngài số tiền này, đổi lại, ngài hãy làm điều tương tự với nhà hàng bên cạnh.”
Thực ra, chủ nhà hàng này và chủ nhà hàng bên cạnh vốn có mối quan hệ không tốt. Vì bản thân đã bị lừa và chịu tổn thất, nên ông ta muốn nhà hàng đối thủ cũng rơi vào tình cảnh như mình.
“Được thôi.”
Vị khách mỉm cười nhận lại số tiền, bỏ vào túi rồi rời đi. Nhưng khi vừa bước ra cửa, ông ta quay đầu lại và nói:
“Tôi đã ghé cửa hàng bên cạnh trước rồi. Tất nhiên là tôi cũng đã ăn một bữa bằng ‘số tiền trong túi tôi’. Và chính họ là người đã nhờ tôi đến quán của ông đấy. Ha ha ha~!”
Nghe vậy, chủ nhà hàng há hốc miệng không nói nên lời.